Bảo đảm an ninh lương thực và xuất khẩu
Thông tin tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 3/2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, diện tích đất lúa hiện nay đã giảm đáng kể so với trước, từ 3,85 triệu ha xuống còn khoảng 3,1 triệu ha. Dù vậy, sản xuất vẫn duy trì ổn định với sản lượng năm 2025 đạt 43,5 triệu tấn thóc. Trong quý I/2026, sản lượng đạt 3,64 triệu tấn, giảm 5,5% so với cùng kỳ, phản ánh phần nào những khó khăn chung của thị trường.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến thông tin về điều hành sản xuất và tiêu thụ lúa gạo. Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Tiêu thụ lúa gạo tiếp tục được giải quyết theo hướng cân đối hợp lý giữa các nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Trong tổng sản lượng 43,5 triệu tấn, khoảng 14 triệu tấn phục vụ tiêu dùng nội địa cho hơn 100 triệu dân và khoảng 20 triệu lượt khách du lịch. Từ 7-9 triệu tấn được đưa vào chế biến, khoảng 3 triệu tấn dự trữ, 3,4 triệu tấn phục vụ chăn nuôi và 1 triệu tấn làm giống. Năm 2025, xuất khẩu đạt 7,9 triệu tấn, mang về hơn 4,7 tỷ USD, khẳng định vị thế của Việt Nam trên thị trường lúa gạo toàn cầu.
Xây dựng chuỗi giá trị bền vững
Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, để thích ứng với bối cảnh mới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu ban hành Chỉ thị số 21/CT-TTg từ ngày 11/3, đồng thời triển khai nhiều giải pháp mang tính căn cơ. Trong đó, trọng tâm là đẩy mạnh chương trình khoa học công nghệ nhằm nâng cao chất lượng giống lúa. Hiện nay, tỷ lệ giống lúa chất lượng cao đã đạt từ 85% đến 89%, tuy nhiên yêu cầu cạnh tranh ngày càng cao đòi hỏi tiếp tục cải tiến theo hướng rút ngắn thời gian sinh trưởng, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm.
Song song với đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu ngành và chuyển đổi số đang được triển khai mạnh mẽ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và dự báo thị trường. Đặc biệt, chương trình phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao, giảm phát thải đang được thúc đẩy, không chỉ tại các vùng trọng điểm mà hướng tới mở rộng trên phạm vi cả nước. Đây là bước đi quan trọng nhằm hiện thực hóa cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Trong sản xuất, các quy trình canh tác tiên tiến như “3 giảm 3 tăng” tiếp tục được áp dụng rộng rãi, giúp giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất và hiệu quả kinh tế. Việc ưu tiên sử dụng phân hữu cơ, giảm phân vô cơ cũng góp phần cải thiện chất lượng đất và bảo vệ môi trường.
Một giải pháp đáng chú ý khác là điều tiết mùa vụ thông qua giãn vụ và tăng cường dự trữ vật tư nông nghiệp. Thực tế cho thấy tình trạng nông dân mua vật tư cùng thời điểm khiến giá tăng cao, trong khi thu hoạch đồng loạt lại khiến giá lúa giảm. Việc chủ động dự trữ và điều tiết đã giúp giảm áp lực này. Riêng năm 2024, Nhà nước đã ba lần xuất dự trữ giống lúa, lần gần nhất trị giá 110 tỷ đồng.
Về kỹ thuật, ngành nông nghiệp tiếp tục chú trọng phòng chống dịch bệnh, nâng cấp hệ thống thủy lợi và tối ưu hóa quy trình canh tác. Mục tiêu là vừa bảo đảm năng suất, chất lượng, vừa giảm giá thành sản xuất để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Ở cấp địa phương, các tỉnh, thành phố đã chủ động triển khai chỉ đạo của Chính phủ, đặc biệt là tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong thu mua, dự trữ và chế biến. Việc phát triển chuỗi giá trị và hệ sinh thái lúa gạo bền vững đang dần hình thành, giúp ổn định đầu ra và nâng cao giá trị sản phẩm.
Trong Quý I/2026, ngành nông nghiệp đạt mức tăng trưởng 3,58%. Bên cạnh lúa gạo, các lĩnh vực khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng ổn định: Chăn nuôi đạt 2,28 triệu tấn thịt (tăng 4,9%), thủy sản đạt 2,7 triệu tấn (tăng 3,3%), lâm nghiệp đạt 12 triệu m³ gỗ (tăng trên 3%). Tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9%, với thặng dư thương mại đạt 4,78 tỷ USD, tăng 12%.
Hải Linh