Cụ thể, Nghị định 168/2026/NĐ-CP quy định điều kiện hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai như sau:
Lao động nữ sinh con thứ hai, lao động nam khi vợ sinh con thứ hai đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội (BHXH) và được hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 Luật Dân số thuộc các trường hợp sau: Lao động nữ khi sinh con mà tại thời điểm sinh có một con đẻ còn sống; lao động nam khi vợ sinh con mà tại thời điểm sinh, người vợ có một con đẻ còn sống.
Nghị định 168/2026/NĐ-CP nêu rõ, trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật BHXH sẽ không được hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai theo quy định nêu trên.
Thủ tục hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai thực hiện theo pháp luật về BHXH và quy trình giải quyết hưởng các chế độ BHXH, chi trả các chế độ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Người kê khai chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của nội dung kê khai đề nghị hưởng chế độ.
Về mức hỗ trợ tài chính khi sinh con, Nghị định 168/2026/NĐ-CP quy định mức hỗ trợ tài chính tối thiểu là 2.000.000 đồng/phụ nữ khi sinh con thuộc các trường hợp sau: Phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người; phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế; phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi.
Phụ nữ khi sinh con đồng thời thuộc các trường hợp như đã nêu trên thì được hưởng một mức hỗ trợ.
Chủ tịch UBND xã, phường, đặc khu (UBND cấp xã) căn cứ thông tin từ hệ thống liên thông thủ tục đăng ký khai sinh, cơ sở dữ liệu quốc gia dân cư, ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) và các cơ sở dữ liệu có sẵn để quyết định hỗ trợ kinh phí và thực hiện chi trả cho phụ nữ sinh con cùng với thời điểm đăng ký khai sinh.
Kinh phí hỗ trợ tài chính khi sinh con do ngân sách địa phương bảo đảm.
Bên cạnh đó, Nghị định 168/2026/NĐ-CP cũng quy định phạm vi, đối tượng khám sàng lọc một số bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh.
Theo đó, từ 1/7, phụ nữ mang thai được khám và thực hiện các phương pháp sàng lọc trước sinh đủ 4 bệnh cơ bản: Hội chứng Down, hội chứng Edwards, hội chứng Patau, bệnh Thalassemia (tan máu bẩm sinh).
Trẻ sơ sinh được khám và thực hiện các phương pháp sàng lọc sơ sinh đủ 5 bệnh cơ bản: Suy giáp trạng bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản thượng thận bẩm sinh, khiếm thính bẩm sinh, bất thường tim bẩm sinh nặng.
Về mức hỗ trợ khám sàng lọc các bệnh bẩm sinh trước sinh được thanh toán theo thực tế nhưng tối đa không vượt quá 900.000 đồng/trường hợp và các bệnh bẩm sinh sơ sinh được thanh toán theo thực tế nhưng tối đa không vượt quá 600.000 đồng/trường hợp.
Về lộ trình ưu tiên, Nghị định 168/2026/NĐ-CP quy định, từ 1/7 đến 31/12/2026, phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, bảo trợ xã hội; người dân tại thôn đặc biệt khó khăn; xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo được sử dụng miễn phí gói dịch vụ theo quy định tại Điều 9 Nghị định 168/2026/NĐ-CP và mức hỗ trợ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 10 Nghị định 168/2026/NĐ-CP từ nguồn ngân sách nhà nước.
Từ 1/1/2027, tất cả phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh được hưởng hỗ trợ gói dịch vụ quy định tại Điều 9 Nghị định 168/2026/NĐ-CP và mức hỗ trợ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 10 Nghị định 168/2026/NĐ-CP từ nguồn kinh phí quy định tại điểm b khoản 2 Điều 12 Nghị định 168/2026/NĐ-CP.
Nghị định 168/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 1/7/2026.
Hồng Thương