Đình, đền, chùa Trai Trang - Chuyện kể từ đất thiêng

Đình, đền, chùa Trai Trang - Chuyện kể từ đất thiêng
10 giờ trướcBài gốc
Nhân dân Trai Trang phối hợp với nghĩa binh Bãi Sậy chống thực dân Pháp (Tranh minh họa của Đỗ Chuyển)
Các cụ cao niên thường ví làng như một chiếc túi mật (hay túi đựng tiền xu ngày xưa) uốn mình ôm lấy trù mật và sinh khí. Thế đất ấy, như lời truyền tụng, khiến người làng luôn đủ đầy, sung túc, giàu có. Phía Tây làng là con sông Nghĩa Trụ, một nhánh của sông Bắc Hưng Hải ôm ấp, bao bọc. Nước chảy miết quanh năm, như vòng tay người mẹ hiền gìn giữ, tạo nên thế phong thủy tụ linh, tụ phúc.
Thời gian trôi, những mái nhà ngói nâu nhuốm màu sương gió dần lùi vào ký ức, nhường chỗ cho những ngôi nhà cao tầng san sát. Giữa cơn lốc đô thị hóa, Trai Trang vẫn còn lưu giữ cho mình những nét cổ kính thiêng liêng: đình, đền, chùa, miếu… như những cột mốc thời gian, in đậm dấu ấn một thời oanh liệt.
Giữa làng, ngôi đình cổ phủ rêu xanh đứng lặng lẽ, như chứng nhân của bao thăng trầm lịch sử. Đây là nơi hội tụ linh khí đất trời và tấm lòng trung nghĩa của bao thế hệ con dân của làng. Đình được dựng lên để tôn vinh thần tướng Thạch Lân, vị anh hùng trong sử sách, được xem như thần hộ quốc, an dân. Theo thần phả còn lưu giữ, ông sinh ngày 17 tháng Tư năm Canh Dần (510), giữa thời loạn lạc. Khi trưởng thành, Thạch Lân đã cùng Lý Bí vùng lên đánh đuổi quân xâm lược nhà Lương, giành lại độc lập cho dân tộc. Khi về với tiên giới, ông vẫn hiển linh, phò trợ các triều đại, giúp giữ yên bờ cõi.
Ghi nhận công lao ấy, triều đình các thời đã nhiều lần ban sắc phong, tôn ông làm Thành Hoàng làng. Đến nay, đình Trai Trang vẫn lưu giữ được 9 đạo sắc phong cổ từ thời Hậu Lê đến triều Nguyễn. Ngày 16 tháng 11 năm 1988, đình Trai Trang được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Qua nhiều lần trùng tu, đình vẫn giữ dáng dấp rêu phong cổ kính. Những hàng cột lim đã nứt theo năm tháng, mái ngói cong vút phủ lớp rêu dày, như còn vọng đâu đây tiếng trống hội, tiếng khấn nguyện thành kính của bao thế hệ. Với người Trai Trang, ngôi đình không chỉ là nơi thờ phụng, mà là linh hồn làng, nơi quá khứ và hiện tại giao hòa, nơi mỗi bước chân trở về đều thấy lòng mình lắng lại, chạm vào mạch nguồn yêu thương.
Sân đình Trai Trang, nơi từng ngân vang tiếng trống hội, nơi người người sum vầy trong ngày vui làng nước cũng là mảnh đất đã thấm đẫm máu đào của những người con kiên trung khi quê hương chìm trong đêm dài nô lệ.
Ngày 11 tháng 11 (âm lịch) năm 1889, trời đầu đông bỗng sầm lại, mây xám như báo hiệu một cơn dông dữ. Trong trận càn khốc liệt, quân Pháp tràn vào làng. Giữa tiếng gươm giáo, khói lửa mịt mù, mười bảy nghĩa binh Bãi Sậy cùng sáu mươi dân thường vô tội bị giặc bắt đưa đến sân đình. Và rồi, giữa chốn linh thiêng thờ Thành Hoàng làng, tất cả đã bị hành quyết dã man. Vết thương ấy, dân làng mang theo suốt hơn một thế kỷ, khắc sâu trong ký ức bao thế hệ con cháu.
Để khắc ghi tội ác của giặc và tri ân những người đã ngã xuống, dân làng Trai Trang đã dựng lên một ngôi đền trang nghiêm. Chính giữa là bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hai bên là hương án thờ vọng mười bảy nghĩa binh cùng sáu mươi dân thường đã bị giặc sát hại, và khắc ghi danh tính những liệt sĩ quê hương đã hiến dâng máu xương trong các cuộc kháng chiến sau này.
Ngôi đền không chỉ là chốn tâm linh, mà còn là ký ức sống động của làng. Mỗi tấc đất, mỗi viên gạch nơi đây như vẫn còn vọng lại tiếng kêu bi tráng năm xưa. Đó là bản hùng ca được viết bằng máu và nước mắt, để nhắc nhở con cháu muôn đời: Trai Trang đã từng đau thương, nhưng từ đau thương ấy mà kiêu hãnh, bất khuất vươn lên.
Hằng năm, vào ngày 11 tháng 11 (âm lịch), người làng lại lặng lẽ tề tựu bên ngôi đền, dâng nén hương trầm tưởng nhớ. Trong làn khói mờ như thực như hư, đôi khi người ta như thấy những bóng dáng áo vải của nghĩa binh năm xưa hiên ngang giữa sân đình, nhắc nhở cháu con rằng độc lập hôm nay được xây bằng máu thịt của bao thế hệ, và lòng yêu nước là ngọn lửa không bao giờ được phép tắt.
Bên trái đình làng, chùa Nghĩa Lộ, hay gọi là chùa Trai Trang hiện lên cổ kính, trầm mặc. Mặt chùa hướng Tây, đón ngọn gió mát lành từ sông Nghĩa Trụ quanh năm. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ngôi chùa là căn cứ vững chắc của nghĩa quân Bãi Sậy. Từng bức tường, từng viên ngói dường như còn ngân âm của những cuộc họp bí mật, những bước chân lặng lẽ của cán bộ Việt Minh thời tiền khởi nghĩa. Những năm đầu độc lập, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, đình, chùa Trai Trang trở thành lớp học bình dân học vụ. Từ mái chùa ấy, nhiều cán bộ nòng cốt của xã, của huyện đã được giác ngộ và trưởng thành.
Rồi tiếng súng kháng chiến lại vang. Hưởng ứng lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Bác Hồ, người dân Trai Trang đồng lòng, kẻ góp tiền, người góp của, gom từng chiếc liềm, cái cuốc rèn thành vũ khí. Trong giai đoạn 1946 - 1950, Trai Trang trở thành điểm tựa chiến lược, kết nối quốc lộ 5 và quốc lộ 39, là mắt xích quan trọng trong thế trận nhân dân. Ngày 28 tháng 12 năm 2001, chùa Nghĩa Lộ được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.
Bốn năm một lần, làng Trai Trang lại mở hội. Ngày hội ấy không chỉ để tưởng nhớ công đức Đức Thành Hoàng Thạch Lân, mà còn để tri ân những nghĩa binh Bãi Sậy đã ngã xuống vì đất nước. Lễ hội mở ra như một cuộc trở về với cội nguồn, vừa trang nghiêm, vừa rực rỡ sắc màu.
Phần lễ bắt đầu bằng Đại lễ tế Thành Hoàng và tế nội tán, ngoại tán, những nghi thức cổ truyền chất chứa niềm mong ước quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Điểm nhấn là lễ rước kiệu Phật, kiệu Thành Hoàng cùng màn phô diễn các nghề truyền thống của làng. Đoàn rước dài gần hai cây số, đi trên tuyến quốc lộ 39 cũ, gần hai nghìn người chia thành bốn mươi khối rước. Mỗi khối là một bức tranh sống động, kết hợp giữa nét cổ kính và hơi thở mới của làng quê Hưng Yên.
Không khí thiêng liêng lan theo từng hồi trống, thấm vào từng bước chân. Giữa hàng dài rước kiệu là những bậc bô lão râu tóc bạc phơ, tay chắp nghiêm trang, đi bên cạnh là lớp thanh niên trai tráng, sự tiếp nối tự nhiên và đầy tự hào của đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”.
Khi phần lễ khép lại, phần hội mở ra trong tiếng cười rộn rã. Trên sân đình, những trò chơi dân gian như: kéo co, chọi gà, cờ tướng, giã giò, xay lúa, sàng gạo… khiến cả làng như sống lại những ngày xưa. Nổi bật và giàu ý nghĩa nhất là cuộc thi xay lúa, sàng gạo. Không chỉ là trò chơi, đó như một nghi thức tái hiện nếp sống cần cù của cư dân trồng lúa, kể câu chuyện về sự quý giá của hạt gạo và công lao “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” của người nông dân. Tiếng thúng va vào sàng, tiếng lúa trút vào nia, đôi bàn tay thoăn thoắt, những bước chân nhịp nhàng…gợi hương thơm dẻo ngọt của gạo mới, gợi cái mộc mạc đằm sâu trong ký ức quê. Cuộc thi ấy cũng là lời tri ân với nghề hàng xáo một thời, nghề đã góp phần làm nên sự sung túc của bao thế hệ Trai Trang.
Về với hội làng Trai Trang, không chỉ có người con quê hương, mà còn có khách từ khắp nơi tìm đến. Họ đến không chỉ để xem hội, mà còn để tìm lại một mảnh hồn quê đã từng đâu đó trong đời. Làng Trai Trang, dù nằm trong guồng quay hối hả của cơ chế thị trường, vẫn giữ được hồn mình. Người dân nơi đây, dù thức thời, nhạy bén với đổi thay, vẫn nuôi dưỡng một ước nguyện âm thầm mà cao quý: giữ lấy cốt cách và tinh túy của truyền thống ông cha. Giữa dòng chảy cuồn cuộn của hiện đại hóa, lễ hội làng vẫn là một dấu ấn linh thiêng, để mỗi người con Trai Trang khi đi xa nhớ rằng: có thể vươn tới những chân trời mới, nhưng không bao giờ được quên nơi mình đã cất tiếng khóc chào đời, không quên gốc gác từ một miền quê mang tên Trai Trang.
Bút ký của Đỗ Trí Dũng
Nguồn Hưng Yên : http://baohungyen.vn/dinh-den-chua-trai-trang-chuyen-ke-tu-dat-thieng-3184521.html