Đình làng Phú Điền, xã Triệu Lộc (Thanh Hóa), ngôi đình cổ nằm trong Quần thể di tích lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật đền Bà Triệu
Ngôi đình cổ mang hồn thiêng Vua Bà
Nằm trong Quần thể Khu di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật đền Bà Triệu, đình làng Phú Điền, xã Triệu Lộc, tỉnh Thanh Hóa từ lâu được xem là một trong những ngôi đình cổ đặc sắc của Việt Nam.
Trải qua bao biến thiên của thời gian, ngôi đình vẫn hiện diện uy nghi giữa làng quê như một chứng nhân lịch sử, nơi kết tinh giá trị văn hóa, tín ngưỡng và tinh thần thượng võ của người dân vùng địa linh.
Điều đặc biệt làm nên dấu ấn riêng của đình Phú Điền chính là Thành hoàng được thờ trong đình không ai khác ngoài Bà Triệu, nữ anh hùng dân tộc đã đi vào lịch sử bằng cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô oanh liệt ở thế kỷ III.
Với người dân Phú Điền, đình làng không chỉ là nơi hội họp hay sinh hoạt văn hóa cộng đồng, mà còn là chốn linh thiêng để tưởng nhớ công lao của Vua Bà, người được tin rằng luôn dõi theo, che chở cho dân làng suốt bao đời.
Trong ký ức của các bậc cao niên, câu chuyện về Bà Triệu và ngôi đình làng đã trở thành một phần máu thịt trong đời sống tinh thần của người dân nơi đây.
Bà Triệu tên thật là Triệu Thị Trinh, còn gọi là Triệu Ẩu hay Trinh Nương, sinh năm 226 tại quận Cửu Chân xưa.
Ngay từ nhỏ, bà đã nổi tiếng là người có dung mạo hơn người, võ nghệ cao cường và khí phách hiếm có.
Hoài bão lớn lao của bà được thể hiện qua câu nói còn lưu truyền đến hôm nay: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn...”.
Năm 248, cùng anh trai Triệu Quốc Đạt, bà tụ nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Ngô. Sau khi anh trai mất, bà được nghĩa quân suy tôn làm chủ tướng.
Từ căn cứ Ngàn Nưa, nữ tướng họ Triệu lãnh đạo nghĩa quân tiến xuống đồng bằng, liên tiếp đánh hạ nhiều thành ấp của quân Ngô ở Cửu Chân, khiến phong trào lan rộng khắp Giao Chỉ, Nhật Nam.
Trước sức mạnh ấy, Ngô vương Tôn Quyền phải cử tướng Lục Dận mang quân sang đàn áp.
Cuộc chiến diễn ra ác liệt trong bối cảnh tương quan lực lượng chênh lệch. Không chịu khuất phục, Triệu Ẩu đã lên đỉnh Tùng Sơn tuẫn tiết khi mới 23 tuổi.
Cảm phục khí tiết anh hùng của bà, quân sĩ và người dân đã đắp mộ trên đỉnh núi Tùng để đời đời tưởng nhớ.
Từ đó, trong tâm thức dân gian, Bà Triệu trở thành biểu tượng linh thiêng của lòng yêu nước và ý chí quật cường.
Người dân Phú Điền tin rằng sau khi hóa thân về cõi thiêng, bà vẫn luôn phù trợ cho quê hương, giúp dân làng có cuộc sống bình yên, mùa màng tốt tươi, no đủ.
Không gian thờ tự bên trong đình làng Phú Điền lưu giữ nhiều hiện vật, sắc phong và kiến trúc gỗ cổ mang đậm dấu ấn văn hóa truyền thống
Chính từ niềm tin ấy, từ khoảng thế kỷ VII, người dân Phú Điền đã dựng một ngôi đền nhỏ giữa làng để thờ Vua Bà.
Theo thời gian, đình làng được mở rộng, trùng tu và gìn giữ cho đến ngày nay.
Đình được đặt trên khu đất cao nhất làng, quay hướng tây nam nhìn về núi Tùng, nơi có lăng mộ Bà Triệu.
Theo các cụ cao niên, thuở ban đầu đình nằm ở rìa làng, nhưng sau khi đình cũ hư hại, vào thời Nguyễn, dân làng đã cùng nhau góp công, góp của dựng lại ngôi đình ở vị trí hiện nay.
Ông Nguyễn Văn Tĩnh, Trưởng phòng Quản lý Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt đền Bà Triệu cho biết: “Đình làng Phú Điền là một trong những điểm di tích đặc biệt quan trọng trong quần thể đền Bà Triệu.
Không chỉ mang giá trị về kiến trúc nghệ thuật, đình còn là nơi lưu giữ rất rõ tín ngưỡng thờ Bà Triệu trong đời sống người dân địa phương qua nhiều thế kỷ”.
Theo ông Tỉnh, điều đáng quý nhất là đến nay người dân Phú Điền vẫn gìn giữ được nhiều phong tục, nghi lễ truyền thống gắn với việc thờ phụng Vua Bà.
“Đó chính là yếu tố tạo nên sức sống lâu bền cho di tích, để đình làng không chỉ là công trình cổ mà còn là không gian văn hóa sống”, ông nói.
Dấu ấn kiến trúc và sức sống lễ hội
Không chỉ nổi tiếng bởi giá trị lịch sử, đình Phú Điền còn gây ấn tượng bởi nghệ thuật kiến trúc cổ đặc sắc.
Khuôn viên đình rộng rãi, xanh mát với nghi môn tứ trụ bằng đá xanh nguyên khối nằm đối diện tòa đại đình.
Những cột trụ cao lớn có chân quỳ vững chãi, phía trên chạm khắc hình tứ linh, chim phượng và nghê chầu mang đậm bản sắc văn hóa Việt.
Đại đình được xây dựng theo cấu trúc chữ Đinh gồm 5 gian, 6 vì kèo gỗ với hệ thống cột lớn hiên ngang nâng đỡ toàn bộ mái đình.
Kết cấu “giá chiêng, chồng rường, kẻ bẩy” tạo nên vẻ bề thế nhưng vẫn thanh thoát cho công trình.
Hệ thống vì kèo, xà ngang và các mảng chạm khắc gỗ tinh xảo bên trong đình làng Phú Điền
Bước vào bên trong đình, người xem dễ dàng bị cuốn hút bởi hệ thống chạm khắc tinh xảo trên các vì kèo, đầu dư và cấu kiện gỗ.
Những mảng chạm lộng, chạm bong, chạm nổi, chạm chìm được thực hiện công phu, thể hiện sự tài hoa của nghệ nhân xưa.
Ngoài các hình tượng quen thuộc như long, ly, quy, phượng hay cá chép hóa rồng, nhiều bức chạm còn tái hiện đời sống sinh hoạt, tinh thần đoàn kết và khát vọng về cuộc sống yên bình, sung túc của cư dân làng Phú Điền thuở trước.
Phía sau đại đình là khu hậu cung kiến trúc 3 gian 2 chái với hệ vì gỗ cổ truyền, tạo nên tổng thể hài hòa và trang nghiêm.
Trải qua hàng trăm năm, đình làng Phú Điền vẫn là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng của cộng đồng địa phương.
Hằng năm, từ mùng 1 đến 24.2 âm lịch, người dân đều chuẩn bị lễ vật mang ra đình và đền thờ để tưởng nhớ công lao của Vua Bà.
Đặc biệt vào các năm chẵn, lễ hội được tổ chức quy mô, kéo dài từ ngày 19 đến 23.2 âm lịch với nhiều nghi lễ truyền thống trang trọng.
Trong những ngày hội, không gian đình làng trở nên rộn ràng với các trò chơi dân gian như nấu cơm thi, đánh đu dây, cờ người… tạo nên bức tranh văn hóa đậm bản sắc xứ Thanh.
Ngoài ra, vào ngày 2.10 âm lịch, tương truyền là ngày sinh của Bà Triệu, người dân Phú Điền còn tổ chức lễ cơm mới để tạ ơn và cầu mong cuộc sống ấm no, mùa màng bội thu.
Trải qua thời gian, đình làng Phú Điền không chỉ là công trình kiến trúc cổ mang giá trị lịch sử, nghệ thuật mà còn là nơi lưu giữ chiều sâu văn hóa và tín ngưỡng của người dân địa phương.
NGUYỄN LINH