Bên cạnh việc thuật lại những tháng ngày cuối cùng và sự kiện nhập Niết-bàn của Đức Phật, kinh văn cũng đồng thời ghi nhận những giáo huấn cốt lõi của Đức Thế Tôn.
Đây là tài liệu lịch sử quý báu, mô tả chi tiết các sự kiện xã hội, địa lý và văn hóa Ấn Độ thời cổ đại, bao gồm cả việc phân bố xá-lợi của Đức Phật sau khi Ngài nhập diệt. Kinh văn ôn lại và nhấn mạnh các giáo lý căn bản như Bảy pháp bất thoái dành cho Tăng đoàn và cũng như để cho quốc gia phồn thịnh, Bảy giác chi, Tứ niệm xứ, Tứ Thánh đế, cùng như lời di huấn thiêng liêng:
Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác(1).
Kinh văn cũng khẳng định không có “mật giáo” giấu kín, khuyến khích hành giả tự nghiệm chứng giáo pháp, đồng thời nhấn mạnh vai trò của Giới - Định - Tuệ như con đường duy nhất dẫn đến giải thoát.
Ở đây, một trong những lời dạy cốt lõi của Đức Phật, được xem như định thức tu tập cho bất kỳ tông phái Phật giáo nào, đó chính là lời dạy:
Như vậy là giới, như vậy là định, như vậy là tuệ. Định được tu tập trọn vẹn nhờ giới thì có quả lớn, có lợi ích lớn. Tuệ được tu tập trọn vẹn nhờ định thì có quả lớn, có lợi ích lớn. Tâm được tu tập trọn vẹn nhờ tuệ thì giải thoát hoàn toàn khỏi các lậu hoặc, tức là: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu(2).
Ngài Buddhaghosa trong Chú giải kinh Đại bát Niết-bàn (Mahāparinibbānasutta vaṇṇanā) đã giải thích rằng: Giới ở đây chính là Tứ thanh tịnh giới (catupārisuddhisīla)(3). Định ở đây là tâm chuyên chú vào một cảnh (cittekaggata). Tuệ ở đây chính là tuệ minh sát (vipassanāpañnã̄), nên được hiểu như vậy(4).
Ở đây, cấu trúc nhờ thành tựu giới mới thành tựu định, nhờ thành tựu định mới thành tựu tuệ cũng được ghi nhận trong kinh Du hành ở Trường A-hàm:
Tu giới đắc định, được quả báo lớn; tu định đắc trí, được quả báo lớn; tu trí tâm tịnh, được giải thoát hoàn toàn, dứt sạch ba thứ lậu hoặc là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu(5).
Định thức tu tập này được Đức Phật dạy lần đầu tiên ngay sau khi thuyết giảng các pháp bất thoái cho chúng Tỳ-kheo trong thời gian lưu trú ở thành Vương-xá (Rājagaha).
Sau đó, trên chặng hành trình cuối cùng, từ Vương-xá đến Câu-thi-na (Kusinārā), nơi nhập Đại Niết-bàn, Ngài đã tiếp tục lặp lại định thức này ở bảy nơi: 1. Tại Ambalatthikā (nơi nghỉ mát của nhà vua); 2. Tại Nālandā (rừng Pāvārika); 3. Tại Kotịgāma; 4. Tại Nādikā; 5. Tại Vesālī; 6. Tại Bhoganagara; 7. Tại Bhaṇdạgāma cùng với các làng lân cận như Hatthigāma, Ambagāma, Jambugāma.
Có thể nói, dường như định thức “Giới - Định - Tuệ” được lặp lại đúng bảy lần không phải ngẫu nhiên mà mang ý nghĩa sâu xa. Bởi lẽ, trí tuệ sở dĩ được thành tựu là nhờ đa văn. Không những vậy, giáo pháp của Đức Phật là tuần tự, không có sự đột khởi, phải đi từng bước vững chắc, từ giới luật làm nền tảng, dẫn đến định lực, rồi khai mở tuệ giác. Việc lặp lại nhiều lần nhằm nhấn mạnh rằng đây là con đường ưu thắng dẫn đến giải thoát, có thể áp dụng trong mọi thời đại và mọi hành giả.
Hơn nữa, trong hành trình cuối cùng, Đức Phật dừng lại tại các địa điểm khác nhau để thuyết giảng cho các nhóm Tỳ-kheo địa phương. Mỗi lần lặp lại là dịp để Ngài nhắc nhở Tăng đoàn về nền tảng tu tập thiết yếu, giúp họ duy trì Chánh pháp sau khi Ngài diệt độ:
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt bốn pháp mà Ta và các ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sinh tử. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh giới mà Ta và các ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sinh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh định mà Ta và các ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sinh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh tuệ mà Ta và các ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sinh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh giải thoát mà Ta và các ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sinh tử. Này các Tỷ-kheo, khi Thánh giới được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh định được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh tuệ được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh giải thoát được giác ngộ, được chứng đạt, thời tham ái một đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa(6).
Như vậy, định thức Giới - Định - Tuệ không chỉ là định thức dành cho tất cả mọi cá nhân tu tập theo con đường mà Đức Phật đã chỉ dạy mà còn là nền tảng cho sự tồn tại lâu dài của Tăng đoàn. Giới luật thanh tịnh giúp Tăng đoàn hòa hợp, định lực mang lại sự vững chãi nội tâm, tuệ giác dẫn đến giải thoát khỏi lậu hoặc. Nhờ tu tập đúng đắn theo định thức này, tâm hành giả được giải thoát khỏi dục lậu (kāmāsava), hữu lậu (bhavāsava) và vô minh lậu (avijjāsava).
Tóm lại, định thức tu tập vắn tắt “Giới - Định - Tuệ” trong kinh Đại bát Niết-bàn không chỉ là lời dạy cốt lõi mà còn là kim chỉ nam cho mọi hành giả Phật giáo. Việc Đức Phật lặp lại bảy lần trên đường du hành cuối cùng thể hiện lòng từ bi vô hạn, mong muốn Chánh pháp được trường tồn và thực hành đúng đắn. Ngày nay, dù thuộc bất kỳ truyền thống Phật giáo nào, định thức này vẫn là nền tảng bất di bất dịch, dẫn dắt hành giả đến quả vị giải thoát, đoạn tận mọi khổ đau.
-------------------
(1)Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam, tập 1, Kinh Trường bộ, HT. Thích Minh Châu, dịch, NXB.Hồng Đức, 2020, tr.267.
(2)Nguyên tác: “Iti sīlaṁ, iti samādhi, iti pañnã̄. Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso. Samādhiparibhāvitā pañnã̄ mahapphalā hoti mahānisaṁsā. Pañnã̄paribhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ-kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
(3)Tứ thanh tịnh giới (catupārisuddhisīla). 1. Giới thu thúc theo Biệt giải thoát luật nghi (Pātimokkha-saṃvara-sīla): giữ gìn nghiêm ngặt 227 giới (hoặc 250 giới) trong Giới bổn Pātimokkha; 2. Giới thu thúc các căn (Indriya-saṃvara-sīla): kiểm soát sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) khi tiếp xúc với sáu trần; 3. Giới mạng sống thanh tịnh (Ājīva-pārisuddhi-sīla): nuôi mạng chân chánh, không dùng tà mạng như bói toán, xem tướng… để kiếm lợi; 4. Giới thanh tịnh về thọ dụng bốn món cần dùng (Paccaya-sannissita-sīla): quán tưởng đúng đắn khi sử dụng bốn món cần dùng như y áo, thức ăn, chỗ ở, thuốc men, chỉ dùng để hỗ trợ tu hành, không khởi tham đắm.
(4)Chú giải kinh Đại bát Niết-bàn (Mahāparinibbānasutta vaṇṇanā), đoạn 142. Nguyên tác: Ettha catupārisuddhisīlaṃ sīlaṃ cittekaggatā samādhi, vipassanāpañnã̄ pañnã̄ti veditabbā.
(5)Du hành kinh 遊行經 (T.01. 0001.2. 0017b18). Nguyên tác: 修戒獲定, 得大果報; 修定獲智, 得大果報; 修智心淨, 得等解脫, 盡於三漏 - 欲漏、 有漏、 無明漏.
(6)Tam tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam, tập 1, Kinh Trường bộ, HT. Thích Minh Châu, dịch, NXB.Hồng Đức, 2020, tr.279.
(NSGN 358)
Chúc Phú/Nguyệt san Giác Ngộ