Hạ tầng có ý nghĩa quyết định đối với các đô thị đa cực – đa trung tâm
Xác lập tầm nhìn phát triển dài hạn
Dù khởi động muộn hơn thế giới nhưng các thành phố lớn của Việt Nam đều đang dịch chuyển từ mô hình đơn tâm sang đa trung tâm, đa cực. Vừa qua, HĐND thành phố Hà Nội đã thông qua Nghị quyết về Quy hoạch tổng thể Thủ đô, xác lập tầm nhìn phát triển dài hạn trong 100 năm tới theo mô hình đô thị đa cực - đa trung tâm, đa tầng - đa lớp, với tổng nhu cầu vốn cho giai đoạn 2026-2045 ước khoảng 64,84 triệu tỷ đồng… Trong đó, quy hoạch xác định 9 cực tăng trưởng chiến lược làm bộ khung phát triển không gian và kinh tế; định hình 9 trung tâm lớn theo tính chất và chức năng, nhằm "đặt đúng chỗ" các dòng dịch vụ, đầu tư và dân cư; kết hợp 9 trục không gian, hành lang kinh tế, đô thị bám theo các trục giao thông huyết mạch...
Trước đó, TP. Hồ Chí Minh đã xác định hướng phát triển theo mô hình đô thị đa trung tâm, gắn với các phân vùng đô thị chức năng nhằm phân bổ hợp lý dân cư, nhà ở, dịch vụ và hạ tầng. Theo ông Võ Hoàng Ngân, Giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh, phát triển đô thị vệ tinh và mô hình đa trung tâm - đa cực được xem là giải pháp then chốt để giảm áp lực cho khu vực lõi trung tâm. Theo đó, các đô thị vệ tinh sẽ đảm nhận những chức năng cụ thể về dân cư, dịch vụ, công nghiệp và logistics, góp phần phân bố lại không gian và chức năng đô thị. Việc hình thành các cực tăng trưởng mới gắn với hành lang phát triển, các phân vùng đô thị và liên kết vùng sẽ giúp TP. Hồ Chí Minh góp phần tái phân bổ chức năng đô thị, công nghiệp và dịch vụ, giảm áp lực cho khu trung tâm và mở rộng không gian phát triển cho toàn vùng.
Theo các chuyên gia, đô thị đa cực - đa trung tâm là hướng đi đúng và cần thiết trong bối cảnh các đô thị lớn đối mặt với giới hạn tăng trưởng truyền thống. Khi được triển khai bài bản, dựa trên lợi thế kinh tế vùng, hạ tầng đồng bộ và quản trị linh hoạt, mô hình này không chỉ mở rộng không gian phát triển mà còn tái cấu trúc động lực tăng trưởng, hướng tới một đô thị phát triển toàn diện, cân bằng và bền vững.
Quan điểm quy hoạch chung TP. Đà Nẵng cũng là cấu trúc không gian đa cực, đa trung tâm, giao thông công cộng và đường sắt là khung định hình của phát triển đô thị. Tuy nhiên, ông Nguyễn Cửu Loan, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị TP. Đà Nẵng cho biết, khi chuyển các mô hình lý thuyết vào thực tiễn tổ chức không gian đô thị luôn có khoảng cách giữa “thiết kế quy hoạch” và “khả năng thực thi thể chế”. Các mô hình lý tưởng thường đòi hỏi sự đầu tư hạ tầng đồng bộ, đặc biệt là giao thông công cộng chất lượng cao; khả năng điều phối sử dụng đất theo quy hoạch dài hạn; năng lực quản lý và vận hành từ cấp thành phố đến địa phương; tính đồng thuận và tham gia chủ động của người dân và khu vực tư nhân.
Không gian là cốt lõi, hạ tầng làm nền tảng
Ngay ở Đà Nẵng, dù có nền tảng tốt về quản lý đô thị vẫn còn nhiều bất cập về kết nối vùng, thiếu dữ liệu đồng bộ về đất đai, hạ tầng, dân cư tại các khu vực mới sáp nhập, cũng như sự chồng lấn giữa quy hoạch cũ và định hướng mới. Nếu không có một cơ chế điều phối đủ mạnh, cùng với khung pháp lý linh hoạt để điều chỉnh quy hoạch theo thực tiễn phát triển, các giải pháp đề xuất có nguy cơ rơi vào tình trạng trên quy hoạch thì hiện đại, dưới thực tế thì manh mún.
Ngoài ra, việc triển khai các mô hình đô thị thông minh, phát triển sinh thái hay hành lang logistics cần đi kèm các chính sách tài khóa đô thị mới (như ngân sách phân bổ theo vùng, cơ chế tài chính đầu tư công - tư, chuyển giao công nghệ…), ông Nguyễn Cửu Loan cho biết. Để phát triển mô hình đô thị đa cực - đa trung tâm hiệu quả và bền vững, các chuyên gia nhấn mạnh, phải dùng cách tiếp cận lấy kinh tế và con người làm trung tâm.
Cốt lõi của mô hình này không nằm ở việc mở rộng không gian hay hình thành thêm các “trung tâm mới”, mà ở việc phân quyền chức năng kinh tế rõ ràng cho từng cực đô thị, gắn với hệ sinh thái việc làm, dịch vụ và sinh hoạt đủ mạnh để người dân có thể sống, làm việc và thụ hưởng ngay tại chỗ. Hạ tầng phải đi trước một bước, ưu tiên kết nối giữa các cực thông qua giao thông công cộng khối lượng lớn và hạ tầng số đồng bộ, giúp giảm chi phí di chuyển, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ cho người dân và doanh nghiệp.
Theo bà Trần Thu Hằng, Vụ trưởng Vụ Quy hoạch - Kiến trúc (Bộ Xây dựng), quy hoạch cần xác định rõ quy mô dân số, các khu sinh thái và giá trị văn hóa cần bảo tồn; đồng thời làm rõ khung hạ tầng chiến lược, không chỉ về giao thông mà còn về năng lượng, công nghiệp, nông nghiệp và hạ tầng số. Việc lựa chọn kịch bản và chỉ tiêu phù hợp cho từng khu vực là yếu tố then chốt. Quy hoạch cần xây dựng các kịch bản linh hoạt, có thể điều chỉnh theo từng giai đoạn phát triển, thay vì áp dụng cứng nhắc cho toàn bộ tương lai. Để các cực phát triển này vận hành hiệu quả, hạ tầng kết nối phải được xác định là trục xương sống, trong đó các trục giao thông ngang - dọc, giao thông công cộng liên cực giữ vai trò quyết định, đi kèm với cơ chế quản trị thống nhất, không chia cắt theo địa giới hành chính.
Đồng thời, cần lấy doanh nghiệp và thị trường làm động lực dẫn dắt, thông qua các chính sách thu hút đầu tư có trọng tâm, phát triển cụm ngành và chuỗi giá trị thay vì các khu đô thị đơn thuần về nhà ở. Về quản trị, đô thị đa cực chỉ vận hành trơn tru khi có cơ chế điều phối vùng hiệu quả, vượt qua rào cản hành chính, trao quyền chủ động thực chất cho các đô thị vệ tinh và ứng dụng quản trị dựa trên dữ liệu để điều hành linh hoạt.
Quan trọng hơn, phát triển đô thị phải gắn với nâng cao chất lượng sống, bảo đảm nhà ở, hạ tầng xã hội, không gian công cộng và sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương, tránh tình trạng phát triển nóng nhưng thiếu chiều sâu. Trên cơ sở đó, việc triển khai cần có lộ trình, thí điểm và đánh giá bằng các chỉ số thực tế về việc làm, thu nhập, thời gian di chuyển và mức sống, sẵn sàng điều chỉnh theo biến động của thực tiễn, để đô thị đa cực thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội bền vững, phục vụ người dân, doanh nghiệp và cộng đồng một cách thiết thực, vị chuyên gia này khẳng định.
Võ Giang