GS, TS TẠ NGỌC TẤN, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương:
Đột phá trong hiện thực hóa nghị quyết
Chúng ta cần nhìn nhận rõ, Việt Nam đang đứng trước những thời cơ chiến lược có ý nghĩa thời đại, đồng thời cũng đối mặt với những thách thức rất gay gắt. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp, khó dự báo, tốc độ ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Ở trong nước, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, hiện thực hóa hai cột mốc chiến lược năm 2030 và 2045 đòi hỏi toàn hệ thống chính trị phải hành động khẩn trương, quyết liệt, hiệu quả hơn.
Tôi cho rằng, điểm mới rất căn bản của Đại hội XIV của Đảng là chuyển mạnh trọng tâm từ “đúng về chủ trương” sang “đúng và hiệu quả trong thực thi”. Tinh thần này được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh rất rõ và rất thẳng thắn: Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở đường lối, mà nằm ở khâu thực thi, ở khả năng chuyển hóa nghị quyết thành kết quả phát triển cụ thể trong đời sống. Rõ ràng chúng ta không thiếu chủ trương đúng, điều còn thiếu và còn yếu chính là năng lực tổ chức thực hiện.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy rất rõ điều đó. Có nơi, ngay khi có nghị quyết đã vào cuộc quyết liệt, chủ động tháo gỡ điểm nghẽn, tạo ra tăng trưởng và chuyển biến rõ rệt. Nhưng cũng có nơi còn “chờ hướng dẫn”, “nghe ngóng”, triển khai chậm chạp, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của chủ trương.
Trong bối cảnh thời cơ và thách thức đan xen như hiện nay, chúng ta không có thời gian để chậm trễ. Mỗi sự chậm trễ trong nhận thức sẽ kéo theo sự trì trệ trong hành động; mỗi sự chậm trễ trong cải cách thể chế, trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ đều có thể làm mất đi cơ hội phát triển của đất nước, thậm chí là cơ hội của cả một giai đoạn. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải kiên quyết triệt tiêu “độ trễ”, biến nhận thức thành hành động, biến quyết sách thành kết quả cụ thể.
Tôi đặc biệt tâm đắc với tinh thần hành động của Đại hội XIV của Đảng: Nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm hiệu quả. Đây không phải là lời hiệu triệu mang tính khẩu hiệu, mà là yêu cầu có tính kỷ luật chính trị đối với toàn hệ thống. Đồng thời, phải suy nghĩ thật kỹ rồi mới nói; nhưng một khi đã nói là phải làm. Nghĩa là, mọi quyết định về công việc phải được cân nhắc thấu đáo, trên cơ sở khoa học và thực tiễn, bảo đảm đúng đắn, chính xác về chủ trương, đường lối; khi đã thống nhất thì phải hành động quyết liệt, làm đến nơi đến chốn.
Quang cảnh Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN
PGS, TS BÙI HOÀI SƠN, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội:
Trước hết phải thay đổi cách làm
Muốn khắc phục tình trạng yếu trong khâu tổ chức thực hiện nghị quyết, trước hết phải thay đổi cách làm. Mọi chương trình hành động không thể chỉ dừng ở khẩu hiệu, ở quyết tâm chung chung, mà phải được thiết kế trên cơ sở mục tiêu thật rõ, lộ trình thật cụ thể, phân công thật minh bạch, kiểm tra, giám sát thật chặt chẽ. Nói cách khác, nghị quyết muốn đi vào cuộc sống thì ngay từ khâu tổ chức thực hiện phải trả lời được rất rõ: Ai làm, làm việc gì, làm đến đâu, khi nào xong, kết quả được đo bằng gì, ai chịu trách nhiệm nếu không đạt. Đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc “6 rõ”: Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ kết quả. Đây không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà là kỷ luật thực thi. Khi mọi thứ đã rõ, thì không thể đùn đẩy, không thể né tránh.
Về mặt lý luận, đây chính là yêu cầu chuyển từ phương thức lãnh đạo nặng về truyền đạt, quán triệt sang phương thức lãnh đạo gắn chặt với tổ chức thực hiện và kiểm soát kết quả đầu ra. Nếu vẫn duy trì cách quản lý chủ yếu dựa vào mệnh lệnh hành chính, giao việc theo kiểu tuần tự, khép kín, thì rất dễ dẫn đến tình trạng hình thức hóa, làm cho có, báo cáo cho xong. Đại hội XIV của Đảng đòi hỏi phải chuyển mạnh sang quản trị dựa trên kết quả. Nghĩa là không đánh giá qua số cuộc họp đã tổ chức, số văn bản đã ban hành, số báo cáo đã nộp, mà đánh giá bằng sản phẩm phát triển cụ thể, bằng chuyển biến thực chất trong đời sống xã hội, bằng mức độ hoàn thành mục tiêu đã cam kết.
Theo tôi, kỷ luật thực thi phải trở thành nguyên tắc hành động của toàn bộ hệ thống chính trị. Không thể để tình trạng cấp trên quyết liệt, cấp dưới cầm chừng; chủ trương rất rõ nhưng thực hiện lại chậm chạp, thiếu quyết đoán. Kỷ luật ở đây không chỉ là xử lý vi phạm, mà sâu xa hơn là xây dựng một nền nếp hành động nghiêm túc, trách nhiệm, đúng tiến độ, đúng cam kết, đúng hiệu quả. Khi kỷ luật thực thi được đề cao, thì sẽ từng bước chấm dứt được tình trạng né tránh, trì trệ, đùn đẩy trách nhiệm; đồng thời tạo ra áp lực tích cực buộc mỗi tổ chức, mỗi cán bộ phải hành động thực chất hơn, hiệu quả hơn.
TS TRẦN ANH TUẤN, Chủ tịch Hiệp hội Khoa học hành chính Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ:
Người đứng đầu quyết định tốc độ và kết quả
Trong tổ chức thực hiện nghị quyết, yếu tố quyết định trước hết và trên hết là con người, mà trực tiếp là đội ngũ cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu. Có thể nói thẳng, người đứng đầu quyết định tốc độ, quyết định chất lượng và cuối cùng là quyết định kết quả của việc đưa nghị quyết vào cuộc sống.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Quan điểm đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị, nhưng trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu đối với cán bộ không chỉ dừng ở “đức” và “tài”, mà phải nâng lên một trình độ cao hơn-đó là bản lĩnh thực thi nhiệm vụ.
Thực tiễn cho thấy, không ít nơi cán bộ “giỏi tham mưu nhưng yếu tổ chức thực hiện”, nói rất hay nhưng làm chưa đến nơi đến chốn. Đây chính là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm nảy sinh “độ trễ” trong triển khai nghị quyết.
Người đứng đầu phải thực sự tiêu biểu cả về trí tuệ và bản lĩnh; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Thực tế cho thấy, ở đâu người đứng đầu quyết liệt, sâu sát, nói đi đôi với làm, thì ở đó công việc chuyển động nhanh, hiệu quả rõ. Ngược lại, nếu người đứng đầu né tránh, an toàn, thiếu quyết đoán thì cả bộ máy sẽ trì trệ, thiếu động lực.
Một yêu cầu rất quan trọng hiện nay là phải siết chặt kỷ luật trách nhiệm thông qua nguyên tắc “6 rõ”. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế pháp lý đủ mạnh để bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới vì lợi ích chung. Bởi nếu chỉ siết kỷ luật mà không tạo môi trường khuyến khích hành động, thì rất dễ dẫn đến tâm lý sợ sai, né tránh.
Tôi cho rằng, trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu cao nhất đối với đội ngũ cán bộ là phải hội tụ đủ 3 yếu tố: Đúng về nhận thức, vững về bản lĩnh và mạnh về hành động. Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu rất rõ: Không để sự yếu kém của con người làm chậm bước tiến của đất nước. Đây không chỉ là yêu cầu về tổ chức mà còn là mệnh lệnh chính trị đối với mỗi cán bộ, đảng viên.
Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN VĂN SÁU, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam:
Không để bộ máy “đông cứng”, cũng không để lạm quyền
Kiểm soát quyền lực trong tổ chức thực hiện nghị quyết, theo tôi, không chỉ là yêu cầu về kỷ luật, kỷ cương mà còn là vấn đề thuộc về năng lực cầm quyền và chất lượng quản trị quốc gia. Nếu không kiểm soát tốt quyền lực, bộ máy rất dễ rơi vào hai trạng thái đều nguy hiểm như nhau: Một là trì trệ, co cụm, sợ trách nhiệm; hai là lạm quyền, tùy tiện, vượt rào nguyên tắc. Cả hai đều làm méo mó quá trình thực thi nghị quyết, làm suy giảm hiệu lực lãnh đạo và hiệu quả phát triển.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy rất rõ điều đó. Có nơi, cán bộ sợ sai, sợ trách nhiệm, việc thuộc thẩm quyền nhưng không dám quyết, hồ sơ bị đẩy đi đẩy lại, dự án bị ách tắc, cơ hội phát triển bị bỏ lỡ. Nhưng ở chiều ngược lại, nếu buông lỏng kiểm soát, không ràng buộc bằng nguyên tắc, bằng pháp luật, bằng giám sát chặt chẽ, thì rất dễ dẫn tới lạm quyền, làm trái quy định, thậm chí lợi dụng chủ trương để vụ lợi. Như vậy, vấn đề đặt ra không phải chỉ là siết chặt hay nới lỏng, mà là phải thiết kế được một cơ chế kiểm soát quyền lực khoa học, chặt chẽ, đồng thời khơi thông được động lực hành động.
Về mặt lý luận, kiểm soát quyền lực là yêu cầu tất yếu đối với một đảng cầm quyền chân chính, nhằm bảo đảm mọi quyền lực đều được thực thi đúng mục đích, đúng giới hạn, đúng trách nhiệm, phục vụ lợi ích của đất nước và nhân dân.
Tôi cho rằng, yêu cầu hiện nay là phải thực hiện đồng thời hai mặt: Kỷ luật phải nghiêm minh, nhưng cơ chế phải đủ rõ để bảo vệ người dám nghĩ, dám nói, dám làm vì lợi ích chung, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo và dám đương đầu với khó khăn, thử thách. Bởi nếu chỉ nhấn vào xử lý mà không tạo “bệ đỡ” thể chế cho người hành động đúng, hành động vì việc chung, thì rất khó khơi dậy tinh thần đổi mới sáng tạo trong bộ máy.
Từ thực tiễn đó, công tác kiểm tra, giám sát cũng phải được đổi mới theo hướng thực chất hơn. Phải xây dựng được một cơ chế để quyền lực vận hành đúng hướng, cán bộ dám làm việc đúng và mọi hành động đều được đặt dưới sự kiểm soát của kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước và sự giám sát của nhân dân.
PGS, TS NGUYỄN TRỌNG PHÚC, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh):
Đảng vì dân, lấy nhân dân làm thước đo
Điểm xuyên suốt và cũng là đích đến cuối cùng của mọi đổi mới trong triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng chính là vì nhân dân và lấy nhân dân làm thước đo. Đây không chỉ là quan điểm chính trị, mà là nguyên lý cốt lõi trong tư duy cầm quyền của Đảng ta.
Thực tế cho thấy, người dân không đánh giá nghị quyết qua văn bản, qua báo cáo, mà qua những gì họ trực tiếp cảm nhận trong đời sống hằng ngày. Thủ tục hành chính có nhanh gọn hơn không, môi trường sống có an toàn hơn không, cơ hội việc làm có nhiều hơn không, thu nhập có được cải thiện không-đó mới là những tiêu chí chân thực nhất.
Vì vậy, yêu cầu lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo không thể dừng ở khẩu hiệu, mà phải được lượng hóa thành các tiêu chí cụ thể. Cải cách hành chính phải đo bằng thời gian xử lý hồ sơ, bằng mức độ thuận tiện của người dân; phát triển kinh tế phải đo bằng thu nhập, bằng chất lượng sống; quản trị quốc gia phải đo bằng mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp.
Từ góc độ lý luận và thực tiễn, có thể khẳng định: Giá trị của nghị quyết không chỉ nằm ở tầm nhìn chiến lược, mà ở khả năng tạo ra những thay đổi tích cực, cụ thể trong đời sống xã hội. Khi người dân thấy cuộc sống tốt lên, khi niềm tin được củng cố, thì đó chính là thước đo xác đáng nhất của hiệu quả lãnh đạo.
Suy cho cùng, mọi chủ trương, chính sách, nghị quyết chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi đến được với nhân dân, vì nhân dân và được nhân dân thừa nhận bằng chính những chuyển biến cụ thể trong cuộc sống hằng ngày.
NHÓM PHÓNG VIÊN