Tỷ lệ chăn nuôi theo hình thức trang trại công nghiệp hiện nay của cả nước đã đạt từ 55 - 56% đối với gia súc và khoảng 56 - 58% đối với gia cầm. Ảnh minh họa: Đinh Văn Nhiều-TTXVN
Ngành chăn nuôi Việt Nam đang đối mặt với diễn biến phức tạp của dịch bệnh và sự thay đổi khắt khe từ thị trường tiêu thụ. Trước bối cảnh này, nhiều địa phương trên cả nước đã tập trung phát triển theo hướng trang trại quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm an toàn sinh học và gắn chặt với chuỗi giá trị thị trường.
Ông Phạm Kim Đăng, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, tỷ lệ chăn nuôi theo hình thức trang trại công nghiệp hiện nay của cả nước đã đạt từ 55 - 56% đối với gia súc và khoảng 56 - 58% đối với gia cầm. Sự chuyển dịch này là nhân tố quan trọng giúp nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm và tăng cường khả năng kiểm soát dịch bệnh cũng như an toàn thực phẩm.
Một trong những điểm nổi bật trong quá trình chuyển dịch này là sự tham gia ngày càng sâu rộng của các doanh nghiệp vào chuỗi giá trị chăn nuôi. Các doanh nghiệp không chỉ đóng vai trò là nhà đầu tư mà còn là hạt nhân liên kết, dẫn dắt các hộ chăn nuôi và hợp tác xã tham gia vào chuỗi sản xuất khép kín. Mô hình 3F (Feed – Farm – Food), tức là quy trình khép kín từ thức ăn, trang trại đến thực phẩm bàn ăn đang nổi lên như một hướng đi và hiệu quả nhất hiện nay.
Trong mô hình này, toàn bộ các khâu từ sản xuất thức ăn, tổ chức chăn nuôi đến giết mổ, chế biến và tiêu thụ đều được kiểm soát đồng bộ và nghiêm ngặt. Việc chủ động hoàn toàn chuỗi cung ứng không chỉ giúp doanh nghiệp giảm thiểu các chi phí trung gian mà còn nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc, ổn định đầu ra và đặc biệt là kiểm soát dịch bệnh hiệu quả thông qua các hệ thống an toàn sinh học nhiều lớp.
Ông Nguyễn Kiệt, Giám đốc Công ty TNHH Thức ăn chăn nuôi Fago - Chi nhánh miền Trung cho biết, doanh nghiệp lựa chọn mô hình 3F vì đây là cách duy nhất để kiểm soát chất lượng và phát triển bền vững. Khi chủ động được từ thức ăn, con giống đến đầu ra sản phẩm, doanh nghiệp không chỉ giảm rủi ro mà còn nâng cao giá trị gia tăng.
Tại nhiều địa phương, xu hướng chuyển dịch sang chăn nuôi quy mô lớn và ứng dụng công nghệ cao đang diễn ra hết sức rõ nét. Điển hình như tại tỉnh Đắk Lắk, hiện toàn tỉnh có 66 dự án chăn nuôi với tổng vốn đầu tư vượt mức 10.000 tỷ đồng; trong đó, có nhiều dự án quy mô lớn đã đi vào hoạt động.
Ngay trong quý I năm 2026, sản lượng thịt hơi của tỉnh đã đạt gần 97.700 tấn, tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Hay tại Gia Lai, chăn nuôi đã thực sự trở thành một trong những trụ cột chính của ngành nông nghiệp địa phương. Tỉnh đã thu hút được gần 270 dự án đầu tư vào lĩnh vực này, tập trung phát triển các trang trại công nghiệp hiện đại gắn với thị trường tiêu thụ.
Cũng theo ông Phạm Kim Đăng, nhiều doanh nghiệp lớn đã tiên phong trong việc triển khai các mô hình chăn nuôi thông minh những cái tên như Ba Huân, TH True Milk hay Tập đoàn DABACO đã thiết lập các tiêu chuẩn mới cho ngành thông qua việc ứng dụng công nghệ cao trong quản lý đàn, tự động hóa chuồng trại và kiểm soát môi trường. Các trang trại hiện đại ngày nay không chỉ dừng lại ở việc tăng năng suất mà còn hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, thân thiện với môi trường.
Tuy nhiên, theo ông Phạm Kim Đăng bên cạnh những thành tựu đã đạt được, ngành chăn nuôi Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với không ít thách thức. Một trong những điểm yếu lớn nhất là sự phụ thuộc đáng kể vào nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu. Điều này khiến chi phí sản xuất luôn ở mức cao và dễ bị tổn thương trước những biến động tiêu cực của thị trường thế giới cũng như các xung đột địa chính trị toàn cầu.
Thêm vào đó, dịch bệnh trên vật nuôi, đặc biệt là các bệnh nguy hiểm như dịch tả lợn châu Phi, lở mồm long móng hay cúm gia cầm, vẫn luôn tiềm ẩn những rủi ro khó lường. Trong khi đó, các thị trường xuất khẩu cao cấp lại không ngừng nâng cao rào cản kỹ thuật, yêu cầu khắt khe về phúc lợi động vật và minh bạch trong truy xuất nguồn gốc.
Để giải quyết hạn chế trên, ông Phạm Kim Đăng cho rằng, ngành chăn nuôi buộc phải liên kết chuỗi giá trị, từ sản xuất con giống, thức ăn, chăn nuôi đến chế biến và phân phối. Liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông hộ sẽ giúp tối ưu chi phí, ổn định đầu ra và nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm.
Bên cạnh đó, việc chuyển đổi số được xem là giải pháp trung tâm trong giai đoạn tới. Việc áp dụng công nghệ số trong quản lý dữ liệu đàn, theo dõi sức khỏe vật nuôi và tối ưu hóa dinh dưỡng không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn tạo ra một hệ thống thông tin minh bạch.
Đây chính là chìa khóa để đáp ứng yêu cầu về truy xuất nguồn gốc của các thị trường quốc tế, mở ra cơ hội xuất khẩu cho các sản phẩm chăn nuôi Việt Nam. Đồng thời, việc liên kết chặt chẽ theo chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông hộ cần được đẩy mạnh hơn nữa để tối ưu hóa nguồn lực và chia sẻ rủi ro.
Theo chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn 2045 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ngành chăn nuôi Việt Nam được định hướng phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với chuỗi giá trị và kinh tế thị trường, bảo đảm an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh và thân thiện với môi trường.
Mục tiêu đến năm 2030, chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hóa có sức cạnh tranh cao, với phần lớn sản phẩm được sản xuất trong các trang trại, cơ sở chuyên nghiệp và đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu. Sự kết hợp giữa tư duy sản xuất hiện đại, ứng dụng khoa học công nghệ và sự liên kết chặt chẽ trong chuỗi giá trị sẽ là bệ phóng đưa ngành chăn nuôi Việt Nam phát triển bền vững.
Hằng Trần/Bnews/vnanet.vn