Doanh nghiệp kỳ vọng tư duy mới: Đồng kiến tạo chính sách

Doanh nghiệp kỳ vọng tư duy mới: Đồng kiến tạo chính sách
3 giờ trướcBài gốc
Tại Diễn đàn đối thoại về đổi mới sáng tạo (ĐMST) tổ chức tại Tây Ninh hồi cuối tháng 3 vừa qua, đại diện các doanh nghiệp (DN) nông nghiệp công nghệ cao đã nêu lên những bất cập thực tế trong quá trình vận hành.
Thể chế chưa theo kịp thực tiễn
Thực tiễn từ DN cho thấy tốc độ tạo ra giá trị của ĐMST đang nhanh hơn đáng kể so với tốc độ điều chỉnh của thể chế. Trường hợp của Công ty CP Máy móc Thiết bị Ánh Dương là một minh chứng rõ nét. Đơn vị đang xử lý 2-5 tấn bí đỏ hồ lô/ngày để hỗ trợ nông dân. Nhờ ứng dụng AI và công nghệ chế biến sâu, giá trị sản phẩm đã tăng từ mức 5.000-7.000 đồng/kg lên khoảng 200.000 đồng/kg. Mặc dù đạt hiệu quả kinh tế cao, DN vẫn đang đối mặt với những điểm nghẽn mang tính căn cơ ở hai mắt xích quan trọng.
Các doanh nghiệp tham quan Trung tâm đổi mới sáng tạo tỉnh Tây Ninh tại Tuần lễ Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tỉnh Tây Ninh năm 2026 vào ngày 18-3. Ảnh: HUỲNH DU
Trước hết là vấn đề sở hữu trí tuệ, khi thời gian cấp bằng sáng chế hiện kéo dài 2-3 năm, trong khi vòng đời của công nghệ ĐMST chỉ khoảng sáu tháng. Thứ hai là việc tiếp cận tín dụng vẫn là một rào cản lớn, khi cơ chế hiện hành chủ yếu dựa trên tài sản hữu hình như đất đai. Trong khi đó, giá trị cốt lõi của DN khoa học công nghệ và ĐMST lại nằm ở tài sản trí tuệ và các giải pháp hữu ích.
Mặc dù Luật DN 2020 (Điều 34) đã quy định rõ tài sản góp vốn có thể bao gồm giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ và bí quyết kỹ thuật nhưng trong thực tiễn, hệ thống tín dụng vẫn chưa chấp nhận đây là tài sản bảo đảm. Sự không thống nhất này tạo ra một mâu thuẫn thể chế rõ ràng giữa khuôn khổ pháp lý và cơ chế vận hành của thị trường vốn: Tài sản trí tuệ được công nhận về mặt pháp luật nhưng lại chưa được thừa nhận trong hoạt động cấp tín dụng.
Có chính sách nhưng không thể dùng
Một vấn đề mang tính hệ thống khác là tình trạng chính sách có nhưng không được sử dụng. Đại diện DN cho biết để tiếp cận một số chính sách hỗ trợ, DN phải đáp ứng đồng thời nhiều điều kiện về lao động, bảo hiểm, hồ sơ chứng từ, trong khi chi phí hoàn thiện các yêu cầu này có thể cao hơn giá trị hỗ trợ nhận được.
Nghị định 268/2025/NĐ-CP sẽ trao quyền nhiều hơn cho cấp thực thi, trong việc tổ chức triển khai, xem xét và quyết định các mức hỗ trợ phù hợp với từng dự án đổi mới sáng tạo, từng đối tượng và điều kiện thực tiễn. Ảnh: QUANG HUY
Một lãnh đạo cơ quan quản lý tại địa phương cũng thẳng thắn nhìn nhận có những chính sách hỗ trợ quy mô hàng chục triệu đồng nhưng để đáp ứng đầy đủ điều kiện, DN phải phát sinh chi phí lớn hơn, dẫn đến việc không mặn mà tham gia.
Thực tế ghi nhận trường hợp DN đầu tư khoảng 280 triệu đồng cho thiết bị sản xuất, được hỗ trợ lãi suất khoảng 5%, tương đương gần 14 triệu đồng nhưng phải trải qua nhiều bước xác nhận, hoàn thiện hồ sơ và chi phí liên quan, khiến lợi ích thực nhận không đáng kể. Thực tiễn này cho thấy nếu chi phí tiếp cận vượt quá lợi ích, chính sách sẽ khó đi vào cuộc sống và không đạt được mục tiêu hỗ trợ ban đầu.
Cần tư duy “đồng kiến tạo chính sách”
Các vướng mắc nêu trên không chỉ là vấn đề thực thi, mà phản ánh yêu cầu phải điều chỉnh cách thức thiết kế chính sách theo hướng bám sát năng lực triển khai thực tế.
Ví dụ, đối với lĩnh vực sở hữu trí tuệ, yêu cầu rút ngắn thời gian cấp bằng sáng chế đặt ra một bài toán căn cơ về năng lực tư vấn: Không chỉ dừng ở tiếp nhận hồ sơ, mà phải có đội ngũ đủ chuyên sâu để tham vấn, đồng hành cùng DN trong suốt quá trình xác lập quyền. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc xây dựng một đội ngũ tư vấn đạt chuẩn tại địa phương có thể mất 8-10 năm, quá lâu so với tốc độ đổi mới của thị trường.
Trong bối cảnh đó, giải pháp trung gian được xác định là tận dụng hệ thống dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp bên ngoài. Một số địa phương đã triển khai gói hỗ trợ 15-30 triệu đồng để DN thuê các đơn vị tư vấn chuyên sâu, qua đó rút ngắn thời gian xử lý trong ngắn hạn, đồng thời song song với quá trình từng bước hình thành đội ngũ chuyên gia tại chỗ. Cách tiếp cận này cho thấy chính sách không được thiết kế theo một chiều từ phía cơ quan quản lý, mà được hình thành và điều chỉnh thông qua quá trình trao đổi, phản biện và đồng kiến tạo giữa các bên liên quan.
Một điểm mới mang tính đột phá trong tư duy chính sách hiện nay là sự chuyển dịch từ “ban hành chính sách” sang “đồng kiến tạo chính sách”, trong đó Nhà nước không còn xác định sẵn toàn bộ các thông số hỗ trợ, mà thiết kế một khung mở để DN và cơ quan thực thi cùng tham gia xác định. Điểm đổi mới này được thể hiện rõ trong cách tiếp cận của Nghị định 268/2025/NĐ-CP, khi nhiều nội dung không còn quy định theo các mức cứng, mà linh hoạt, gắn với quá trình trao đổi, thỏa thuận giữa các bên.
Cụ thể, trong cơ chế hỗ trợ tài chính, nghị định không ấn định trước các mức cấp bù lãi suất như cách tiếp cận truyền thống (ví dụ 2%, 4% hay 5%), mà quy định theo nguyên tắc hỗ trợ căn cứ vào tính chất nhiệm vụ, mức độ rủi ro và hiệu quả dự kiến của từng dự án. Mức hỗ trợ không còn là “tham số cố định”, mà là kết quả của quá trình đánh giá và trao đổi giữa DN với cơ quan quản lý hoặc tổ chức thực hiện quỹ.
Tương tự, đối với cơ chế voucher hỗ trợ tiêu dùng sản phẩm ĐMST, nghị định không quy định một mức giá trị cụ thể, mà cho phép xác định linh hoạt theo từng trường hợp, có thể ở mức 5.000 đồng, 7.000 đồng/sản phẩm hoặc lên đến 50%-100% giá trị sản phẩm, tùy theo mục tiêu chính sách và khả năng lan tỏa của sản phẩm đó.
Điểm đáng chú ý là các quy định này không chỉ dừng ở việc “mở khung”, mà còn hàm chứa một cơ chế vận hành mới, trong đó DN không chỉ đề xuất nhu cầu, mà trực tiếp tham gia vào quá trình xác định mức hỗ trợ thông qua trao đổi, thỏa thuận với cơ quan thực thi.
Nâng cao hiệu quả nguồn lực công, giảm rủi ro
Ở góc độ thể chế, “đồng kiến tạo” chính sách là sự chuyển dịch quan trọng từ mô hình quản lý dựa trên quy tắc cứng sang mô hình điều hành linh hoạt dựa trên tương tác.
Doanh nghiệp không còn thụ hưởng thụ động
Các cơ quan quản lý và chuyên gia đều thống nhất rằng trong một khung chính sách mở, DN không còn là đối tượng thụ hưởng thụ động, mà trở thành chủ thể cùng Nhà nước xác định nội dung, công cụ và mức độ hỗ trợ. Thực tiễn triển khai cho thấy cách tiếp cận này giúp chính sách bám sát nhu cầu thực tế hơn, đồng thời tạo điều kiện để các giải pháp được điều chỉnh linh hoạt ngay trong quá trình thực thi.
Thực tiễn trước đây cho thấy các cơ chế hỗ trợ với tỉ lệ cố định thường không phản ánh đúng sự khác biệt về mức độ rủi ro giữa các dự án, dẫn đến tình trạng hoặc DN không tiếp cận được hoặc chính sách không phát huy hiệu quả. Khi chuyển sang cơ chế cho phép “cùng xác định”, chính sách có khả năng điều chỉnh theo từng trường hợp cụ thể, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công.
Quan trọng hơn, cách tiếp cận này thiết lập một cơ chế chia sẻ rủi ro thực chất giữa Nhà nước và DN. Thay vì chỉ hỗ trợ theo các tỉ lệ định sẵn, Nhà nước tham gia cùng DN trong việc đánh giá và chấp nhận rủi ro của từng dự án ĐMST. Khi đó, chính sách không còn đóng vai trò như một rào cản hành chính, mà trở thành một công cụ tài chính linh hoạt, đồng hành với DN trong quá trình tạo ra giá trị mới.
Ở góc độ tài chính công, cơ chế này cũng cho thấy sự chuyển dịch từ “hỗ trợ” sang “đồng đầu tư có chia sẻ rủi ro”. Khi mức hỗ trợ không được ấn định trước mà được xác định trên cơ sở đánh giá từng dự án, Nhà nước thực chất đang tham gia như một đối tác cùng chia sẻ rủi ro với DN. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các hoạt động ĐMST, nơi tỉ lệ thất bại cao nhưng giá trị tạo ra khi thành công lại rất lớn. Cách tiếp cận này giúp nguồn lực công được phân bổ có chọn lọc hơn, thay vì dàn trải theo các mức hỗ trợ cố định.
Không chỉ dừng lại ở việc thiết kế các mức hỗ trợ linh hoạt, Nghị định 268/2025/NĐ-CP còn thể hiện bước tiến quan trọng trong phân cấp, khi trao quyền nhiều hơn cho cấp thực thi, đặc biệt là địa phương, trong việc tổ chức triển khai, xem xét và quyết định các mức hỗ trợ phù hợp với từng dự án, từng đối tượng và điều kiện thực tiễn. Thay vì quy định cứng nhắc mọi thông số từ Trung ương, nghị định cho phép cơ quan quản lý tại địa phương hoặc các quỹ hỗ trợ ĐMST chủ động phối hợp với DN để đánh giá nhu cầu, lựa chọn hình thức hỗ trợ và triển khai theo hướng sát với thực tế hơn. Cách tiếp cận này giúp chính sách phản ứng nhanh hơn với nhu cầu của DN, giảm độ trễ trong thực thi và tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực hỗ trợ.
(*) PGS-TS Phạm Thị Thanh Xuân, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển công nghệ ngân hàng, Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐHQG TP.HCM; bà Huỳnh Thị Hồng Nhung, Giám đốc Sở KH&CN tỉnh Tây Ninh; ông Phan Trọng Nghĩa, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Máy móc Thiết bị Ánh Dương.
Từ đồng thuận thực tiễn đến gợi mở hướng cải cách
Tổng hợp từ thực tiễn triển khai và các phân tích chuyên môn cho thấy các vấn đề đặt ra không còn dừng ở mức vướng mắc kỹ thuật, mà đã hội tụ thành những điểm nghẽn mang tính cấu trúc của hệ thống chính sách.
Trong đó, lĩnh vực sở hữu trí tuệ nổi lên như một trọng tâm cần xử lý ở cấp độ chính sách. Thực tế thời gian cấp bằng sáng chế kéo dài 2-3 năm, trong khi vòng đời công nghệ và sản phẩm chỉ khoảng sáu tháng, đã tạo ra một khoảng lệch đáng kể giữa tốc độ đổi mới và tốc độ bảo hộ. Điều này đặt ra yêu cầu không chỉ rút ngắn quy trình cấp bằng, mà cần tiếp cận ở mức độ sâu hơn: Tổ chức nghiên cứu, xây dựng luận cứ và đánh giá toàn diện khả năng điều chỉnh cơ chế bảo hộ sáng chế theo hướng phù hợp với các lĩnh vực có tốc độ đổi mới cao, nơi giá trị không nằm ở thời gian bảo hộ dài, mà ở khả năng thương mại hóa nhanh.
Ở góc độ tài chính, mâu thuẫn giữa khung pháp lý và thực tiễn thị trường vốn tiếp tục là một điểm nghẽn lớn. Mặc dù tài sản trí tuệ đã được pháp luật công nhận là tài sản hợp pháp có thể góp vốn nhưng chưa được hệ thống tín dụng chấp nhận là tài sản bảo đảm. Điều này đòi hỏi phải có những điều chỉnh mang tính liên thông giữa pháp luật DN, pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định về tín dụng, nhằm hình thành một cơ chế công nhận và định giá tài sản trí tuệ có thể vận hành trong thực tiễn.
Bên cạnh đó, thực tiễn cho thấy nếu chi phí tiếp cận chính sách cao hơn lợi ích nhận được thì chính sách sẽ không được sử dụng, bất kể mục tiêu ban đầu được thiết kế đúng. Do đó, cần chuyển từ tư duy “thiết kế đủ điều kiện” sang “thiết kế có thể tiếp cận”, trong đó mỗi công cụ hỗ trợ cần được đánh giá không chỉ về mức hỗ trợ, mà cả chi phí thực tế mà DN phải bỏ ra để tiếp cận.
Điểm quan trọng là các vấn đề nêu trên không tồn tại rời rạc, mà đang hình thành một yêu cầu cải cách có tính hệ thống. Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục mở rộng không gian đồng kiến tạo, đặc biệt đối với các vấn đề mới như cơ chế bảo hộ sáng chế, công nhận tài sản trí tuệ trong tín dụng hay thiết kế công cụ tài chính linh hoạt, sẽ là điều kiện quan trọng để chuyển từ nhận diện vấn đề sang hành động chính sách cụ thể.
NHÓM TÁC GIẢ (*)
Nguồn PLO : https://plo.vn/doanh-nghiep-ky-vong-tu-duy-moi-dong-kien-tao-chinh-sach-post902543.html