Áp lực lớn lên chuỗi cung ứng và xuất khẩu Việt Nam
TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP Hà Nội cho rằng, xung đột Trung Đông đã trở thành cú sốc địa chính trị toàn cầu, tác động lan tỏa qua ba kênh chính: Năng lượng, logistics và tài chính. Khi căng thẳng leo thang, nguy cơ gián đoạn nguồn cung dầu khí khiến giá năng lượng biến động mạnh, làm tăng chi phí sản xuất, vận tải và bảo hiểm hàng hóa đối với nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu vì vậy chịu “tác động kép” khi chi phí đầu vào tăng nhưng nhiều hợp đồng đã ký với giá cố định. Bên cạnh đó, rủi ro tại các tuyến hàng hải như eo biển Hormuz, Biển Đỏ hay kênh đào Suez buộc nhiều hãng tàu đổi hải trình, khiến thời gian vận chuyển kéo dài 10–14 ngày. Giá cước container 40 feet có thể tăng gấp 2–3 lần, vượt 5.000 USD, kèm theo phụ phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh.
Nông sản và thủy sản là nhóm ngành chịu tác động rõ rệt.
Nông sản và thủy sản là nhóm ngành chịu tác động rõ rệt do phụ thuộc lớn vào thời gian vận chuyển và điều kiện bảo quản.
Trao đổi với PV Báo CAND, ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho biết, căng thẳng Trung Đông từ cuối tháng 2/2026 giữa Mỹ, Israel và Iran đang gây sức ép lớn lên doanh nghiệp xuất khẩu rau quả với ba tác động chính: Chi phí vận tải tăng mạnh, thời gian giao hàng kéo dài và rủi ro thanh toán gia tăng. Giá cước container đi Mỹ, EU đã tăng 2–3 lần, có thể vượt 5.000 USD/FEU; tuyến đi Dubai tăng gần gấp đôi do phụ phí chiến tranh. Nhiều tàu phải đi vòng qua Nam Phi thay vì kênh đào Suez, kéo dài thêm 10–15 ngày vận chuyển, làm tăng nguy cơ hư hỏng hàng tươi. Đồng thời, thanh toán chậm hơn do hạn chế giao dịch ngân hàng, tỷ giá biến động và phí bảo hiểm tăng. Từ đầu tháng 3/2026, cước vận tải đã tăng 200–300%, container lạnh khan hiếm và dòng tiền doanh nghiệp bị ảnh hưởng.
Trung Đông hiện là thị trường quan trọng của thủy sản Việt Nam, với kim ngạch năm 2025 đạt 401 triệu USD, tăng gần 10% so với năm trước. Theo bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, thủy sản yêu cầu nghiêm ngặt về nhiệt độ và thời gian vận chuyển. Khi không phận bị hạn chế, lịch bay xáo trộn, nguồn cung hàng tươi có thể thiếu hụt chỉ sau vài ngày. Dubai với cảng Jebel Ali do DP World vận hành là trung tâm trung chuyển lớn của khu vực. Khi tàu chuyển hướng, nguy cơ ùn tắc, thiếu vị trí cắm điện cho container lạnh gia tăng, kéo theo chi phí lưu bãi và rủi ro suy giảm chất lượng hàng hóa.
Doanh nghiệp cần chủ động đa dạng hóa thị trường, tận dụng các FTA, linh hoạt phương thức vận tải để giảm thiểu rủi ro.
Theo ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam, xung đột Trung Đông đang diễn biến khó lường và ngành dệt may đã bắt đầu cảm nhận rõ tác động chỉ trong vài ngày gần đây. Hiện, ngành đang đối mặt ba thách thức lớn. Thứ nhất là áp lực chi phí, đặc biệt chi phí vận tải khi các tuyến hàng hải liên quan đến Trung Đông tiềm ẩn rủi ro, có thể làm gián đoạn chuỗi cung ứng. Thứ hai là nguy cơ sụt giảm đơn hàng do bất ổn địa chính trị khiến người tiêu dùng toàn cầu thắt chặt chi tiêu với hàng may mặc. Thứ ba là rủi ro giá dầu tăng, kéo theo chi phí nguyên liệu như xơ, sợi tổng hợp – nhóm sản phẩm chiếm khoảng 40–45% cơ cấu sản xuất của ngành. Trước tình hình này, các doanh nghiệp dệt may đang tính toán lại kế hoạch sản xuất và dòng tiền, tìm phương án vận chuyển thay thế, đồng thời rà soát hoạt động để tiết giảm chi phí và nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu về giá và tiến độ giao hàng từ đối tác. Mục tiêu quan trọng là giữ ổn định đơn hàng và việc làm cho người lao động trong thời gian tới.
Trước diễn biến phức tạp của xung đột tại khu vực Trung Đông có thể ảnh hưởng đến hoạt động vận tải và chuỗi cung ứng toàn cầu, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) đã yêu cầu các hiệp hội ngành hàng rà soát, đánh giá tác động, tới xuất nhập khẩu, logistics và nguồn cung nguyên liệu và chủ động đề xuất giải pháp và tìm kiếm thị trường thay thế khi cần thiết.
Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu
Ngành dệt may Việt Nam hiện xuất khẩu tới hơn 130 thị trường, trong đó tỷ trọng sang Trung Đông không lớn, nhưng thị trường Mỹ chiếm tỷ trọng rất cao. Phần lớn hàng xuất sang Mỹ vận chuyển bằng đường biển từ châu Á, vì vậy nếu các tuyến hàng hải quốc tế bị ảnh hưởng bởi xung đột Trung Đông, tiến độ giao hàng cũng khó tránh khỏi tác động.
Theo ông Vũ Đức Giang, trước diễn biến này, ngành dệt may buộc phải rà soát và cân nhắc lại chiến lược phát triển năm 2026, với mục tiêu hạn chế suy giảm đơn hàng, đồng thời tìm thêm động lực từ các thị trường khác để duy trì sản xuất và việc làm cho người lao động. Ngay khi xung đột bùng phát, một số doanh nghiệp có thị phần tại Trung Đông đã chủ động làm việc với đối tác để điều chỉnh thời gian giao hàng và chia sẻ chi phí phát sinh.
Tận dụng các FTA và đa dạng hóa thị trường để duy trì ổn định xuất khẩu các mặt hàng chủ lực.
Theo ông Đặng Phúc Nguyên, trong bối cảnh căng thẳng Trung Đông còn phức tạp, doanh nghiệp rau quả Việt Nam đang ưu tiên giảm rủi ro tài chính và hàng hóa. Nhiều đơn vị tạm giảm xuất khẩu hàng tươi như sầu riêng, thanh long, chuyển sang sản phẩm chế biến (đóng hộp, sấy, đông lạnh) để phù hợp với thời gian vận chuyển kéo dài. Doanh nghiệp cũng đàm phán lại hợp đồng, bổ sung điều khoản bất khả kháng, chia sẻ chi phí vận tải và chia nhỏ lô hàng để linh hoạt giao hàng.
Trong trung hạn (6–12 tháng), doanh nghiệp không rút khỏi Trung Đông nhưng điều chỉnh chiến lược, tăng khai thác các thị trường ổn định như EU, Mỹ, Trung Quốc để bù đắp đơn hàng; đồng thời cân nhắc thuê kho lạnh hoặc hợp tác trung tâm phân phối tại các quốc gia trung chuyển. Các phương thức thanh toán an toàn hơn như bảo đảm ngân hàng hoặc qua trung gian cũng được ưu tiên nhằm hạn chế rủi ro dòng tiền.
Nếu các tuyến hàng hải quốc tế bị ảnh hưởng bởi xung đột Trung Đông, tiến độ giao hàng cũng khó tránh khỏi tác động.
Về dài hạn, doanh nghiệp cần đa dạng hóa logistics, không phụ thuộc một tuyến vận tải, có thể kết hợp Sea–Air với lô hàng giá trị cao, mua bảo hiểm rủi ro và sử dụng L/C không hủy ngang. Song song đó, đẩy mạnh chế biến sâu, tận dụng các FTA và đa dạng hóa thị trường để duy trì ổn định xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như sầu riêng, thanh long, dừa, xoài, chuối, chanh leo và bưởi.
Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho biết sẽ tổng hợp khó khăn của doanh nghiệp để kiến nghị Chính phủ, Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các giải pháp hỗ trợ trước biến động địa chính trị tại Trung Đông.
Trước mắt, Hiệp hội đề xuất làm việc với các hãng tàu để minh bạch phụ phí, đặc biệt là phụ phí rủi ro chiến tranh; đồng thời xem xét giảm phí cầu cảng, lưu kho bãi và hỗ trợ các lô hàng bị chậm hoặc phải đổi hải trình. Ngoài ra, cần mở rộng các hành lang vận tải thay thế như đường sắt liên vận sang châu Âu để giảm phụ thuộc vào tuyến hàng hải rủi ro.
Về tài chính, Hiệp hội kiến nghị giãn nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giảm lãi suất cho doanh nghiệp bị ảnh hưởng nhằm bảo đảm dòng tiền. Về lâu dài, cần đẩy mạnh mở cửa thị trường mới, tận dụng các FTA và khuyến khích đầu tư chế biến sâu để nâng cao khả năng chống chịu của ngành rau quả.
Trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và nhiều khu vực còn phức tạp, TS. Mạc Quốc Anh cho rằng, doanh nghiệp cần tập trung ba giải pháp chính. Thứ nhất, tăng cường quản trị rủi ro địa chính trị, rà soát hợp đồng, điều khoản thanh toán, bảo hiểm và đa dạng hóa đối tác, tuyến vận tải. Thứ hai, sử dụng các công cụ phòng ngừa tài chính và đàm phán điều khoản giá linh hoạt theo biến động nhiên liệu, cước vận tải. Thứ ba, tái cấu trúc thị trường xuất khẩu, vừa duy trì Trung Đông vừa mở rộng sang Nam Á, châu Phi và ASEAN để phân tán rủi ro.
TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cũng khuyến nghị trong ngắn hạn doanh nghiệp cần theo sát diễn biến, xây dựng kịch bản dự phòng; về dài hạn cần củng cố quản trị rủi ro, lập quỹ dự phòng tài chính và đa dạng hóa thị trường.
Ở tầm vĩ mô, Nhà nước cần điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ, tỷ giá; tăng cường cảnh báo thương mại, hỗ trợ tín dụng và bảo hiểm xuất khẩu cho doanh nghiệp, đồng thời đẩy mạnh đàm phán thương mại để bảo đảm an toàn cho thanh toán và vận chuyển quốc tế.
Lưu Hiệp