Sau 40 năm Đổi mới, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển cùng với chủ trương hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện đã góp phần nâng cao vị thế đất nước, mở rộng không gian phát triển và tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bước vào kỷ nguyên mới, vai trò của công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế càng được khẳng định mạnh mẽ, trở thành cầu nối đưa Việt Nam khẳng định vị thế mới trong bối cảnh thế giới nhiều biến động. Tiếp tục loạt bài viết trước thềm ĐHĐ lần thứ 14, Đài TNVN trân trọng giới thiệu bài viết của Đại sứ Phạm Quang Vinh nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ với câu chuyện “Đối ngoại đưa Việt Nam vươn xa”.
40 năm Đổi mới đã thực sự tạo ra một hình ảnh Việt Nam mới
Từ năm 1986 đến năm 2026, 40 năm Đổi mới đã thực sự tạo ra một hình ảnh Việt Nam mới. Một Việt Nam phát triển kinh tế, một Việt Nam hội nhập quốc tế và một Việt Nam có vị thế quốc tế ngày càng quan trọng. Thành công này, là nhờ Đảng ta đã có những thay đổi mạnh mẽ về tư duy đối ngoại và hội nhập quốc tế, để từ đó tạo đà cho kinh tế thương mại phát triển, bảo đảm môi trường hòa bình, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Tư duy đối ngoại ấy phát triển nhờ các thành tố: hòa bình, độc lập, hợp tác, phát triển và tiến bộ xã hội. Đó là hợp tác với các nước trên cơ sở kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, đồng thời lấy hội nhập quốc tế để phục vụ cho phát triển. Đó là một Việt Nam tích cực đóng góp và sự nghiệp chung của thế giới vì hòa bình và phát triển. Đây là những điểm nhất quán trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Trong mỗi giai đoạn khác nhau, tư duy ấy được cập nhật, được bổ sung, được nâng cao và phát triển mới.
Đại sứ Phạm Quang Vinh nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ.
Lấy dấu mốc từ Đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng ta đã xác định cần mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, trong đó có các nước thuộc chế độ chính trị xã hội khác nhau. Đây là sự chuyển đổi về tư duy đối ngoại. Nếu như trước đây, chúng ta chỉ làm bạn với các nước bạn bè đối tác XHCN, thì nay với phương châm “thêm bạn bớt thù” của Nghị quyết 13 năm 1988, chúng ta đã thiết lập quan hệ đối tác với tất cả các nước (193/193 các nước thành viên của LHQ).
Đến Đại hội lần thứ VII năm 1991, Đảng ta xác định xây dựng quan hệ đối ngoại rộng mở, làm bạn với tất cả các nước, đa dạng hóa quan hệ, đa phương hóa quan hệ. Đây là sự chuyển đổi rất lớn giúp chúng ta phá vỡ thế bao vây cấm vận sau chiến tranh. Trong hành trình ấy, chúng ta đã giải quyết vấn đề Campuchia năm 1979; bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc năm 1991; gia nhập ASEAN, rồi bình thường hóa quan hệ với Mỹ, và hợp tác kinh tế với châu Âu EU năm 1995.....Những sự kiện này vừa giúp Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước vừa thúc đẩy hợp tác và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Giai đoạn 1996 - 2009 đánh dấu những tư tưởng chỉ đạo lớn, xuyên suốt của Đảng về đối ngoại và hội nhập quốc tế. Chúng ta lần đầu tiên vừa chủ động tích cực hội nhập về kinh tế vừa mở rộng sang các lĩnh vực khác. Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên hội nhập kinh tế ASEAN theo đúng lộ trình và hiệu quả. Từ ASEAN, chúng ta ký hiệp định thương mại tự do BTA với Mỹ năm 2000; tham gia WTO năm 2007; tham gia APEC, rồi trở thành thành viên không thường trực HĐBA LHQ lần đầu tiên năm 2008, tiếp đó đảm nhiệm cương vị nước chủ nhà Diễn đàn Kinh tế APEC vào năm 2006…
Giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2025, Việt Nam đã đẩy mạnh hơn nữa hội nhập toàn diện và sâu rộng, trong đó đối ngoại đóng vai trò chủ động tiên phong với nguyên tắc: độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, tích cực của hội nhập quốc tế. Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta đã đặt đối ngoại ở vai trò tiên phong với một nền ngoại giao toàn diện, hiện đại dựa trên 3 trụ cột đối ngoại Đảng, đối ngoại Nhà nước và đối ngoại nhân dân; đồng thời khẳng định Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.
Đại hội đã đặt ra nguyên tắc tối thượng: lợi ích quốc gia phải đi cùng với việc tuân thủ luật pháp quốc tế; đồng thời khẳng định nguyên tắc: đối ngoại phải bảo vệ Tổ quốc từ sớm từ xa, phục vụ cho phát triển đất nước với tư cách là nhiệm vụ trọng tâm và kết hợp nâng cao vị thế đất nước. Việc năm 2010, 2020, Việt Nam giữ vai trò Chủ tịch của ASEAN; năm 2014, Việt Nam lần đầu tiên tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình LHQ; Việt Nam được tín nhiệm 2 lần được bầu vào thành viên không thường trực Hội đồng bảo an LHQ các năm 2020-2021 và 3 lần được bầu vào Hội đồng Nhân quyền LHQ… là những ví dụ cho thấy thành công từ tư duy đối ngoại của Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2025, Việt Nam đã đẩy mạnh hơn nữa hội nhập toàn diện và sâu rộng và chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng.
Nhờ vậy, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, chẳng hạn như kinh tế, thương mại. GDP của Việt Nam đã tăng 106 lần với hơn 500 tỷ USD Mỹ, đứng thứ 30-32 trên thế giới. Thu nhập đầu người hiện đã tăng hơn 60 lần, với khoảng 5.000 USD Mỹ/đầu người. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, lạm phát cao 3 con số, Việt Nam giờ đây đã trở thành một nước đang phát triển có thu nhập trung bình và năng lực hội nhập quốc tế mạnh mẽ.
Về đối ngoại, chúng ta đã phá vỡ thế bao vây cấm vận để mở rộng quan hệ với tất cả các nước lớn; Việt Nam đã tham gia đầy đủ vào các tổ chức quốc tế và các tổ chức khu vực và liên khu vực quan trọng trên thế giới; tham gia những chuỗi cung ứng toàn cầu; ký kết FTA rộng khắp với hơn 60 đối tác chủ chốt là những nước và những đối tác kinh tế hàng đầu trên thế giới, trong đó có 17 FTA cả song phương và đa phương.
Trong kỷ nguyên mới, với một thế giới nhiều biến động, đối ngoại và hội nhập quốc tế phải được đặt trong bối cảnh mới, với tư duy đột phá chiến lược của Đại hội Đảng lần thứ XIV. Việc xây dựng các dự thảo báo cáo Chính trị, những Nghị quyết mang tính chiến lược và đột phá để chuẩn bị cho kỷ nguyên mới, trong đó có Nghị quyết 59 về Hội nhập quốc tế, các Nghị quyết khác về phát triển kinh tế và xã hội, bao gồm cả xây dựng thể chế, luật pháp, kinh tế tư nhân, đổi mới khoa học công nghệ,… tất cả đã tạo ra một tầm nhìn cho Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới. Đối ngoại trong giai đoạn mới, phải phục vụ các mục tiêu khi Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới từ nay đến năm 2030 và năm 2045.
Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới là Đại hội XIV của Đảng.
Việc lần đầu tiên Dự thảo báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV của Đảng đưa đối ngoại và hội nhập quốc tế đứng ngang hàng với an ninh quốc phòng là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên, cho thấy nhận thức quan trọng của Đảng về đối ngoại và hội nhập quốc tế trong bối cảnh quốc tế mới, phù hợp với mục tiêu mới, nhiệm vụ mới của Việt Nam và vị thế mới của đất nước.
Đối ngoại, hội nhập quốc tế gắn với an ninh quốc phòng, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, gắn với nền kinh tế hiện đại, chuyển đổi số và chuyển đổi số xanh và đổi mới sáng tạo, sẽ là những kim chỉ nam để Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới.
Để hiện thực hóa tầm nhìn mới, thúc đẩy vị thế quốc tế mới, chúng ta phải tham gia tích cực vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu và nền văn minh nhân loại. Thành tựu 40 năm Đổi mới đã để lại những bài học kinh nghiệm sâu sắc về đối ngoại và hội nhập quốc tế trong việc tạo dựng nguồn lực cho phát triển, đảm bảo cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc…..Đây sẽ là tiền đề để Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, tham gia sâu hơn vào các cấu trúc quốc tế; từ vai trò tham gia chuyển sang vai trò đồng hành kiến tạo, vừa tích cực tham gia vừa tích cực đóng góp. Đối ngoại với hình ảnh một Việt Nam có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế; cùng cộng đồng quốc tế quản trị và giải quyết các vấn đề toàn cầu trong một kỷ nguyên đầy biến động đã, đang và sẽ góp phần đưa đất nước vươn xa.
Đại sứ Phạm Quang Vinh