Đối ngoại ở tuyến đầu của phát triển đất nước
Nghị quyết số 06-NQ/TW không chỉ cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đại hội XIV mà còn khẳng định mạnh mẽ vai trò, vị thế và sứ mệnh mới của đối ngoại Việt Nam trong một thế giới đang đổi thay sâu sắc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu. Ảnh: Phạm Thắng
Điểm nổi bật trước hết trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là việc xác định đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, cùng với quốc phòng và an ninh. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy lãnh đạo của Đảng. Đối ngoại không còn chỉ là hoạt động diễn ra bên ngoài biên giới quốc gia mà đã trở thành một phương thức quan trọng để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen phức tạp, sự phát triển của mỗi quốc gia ngày càng gắn chặt với môi trường khu vực và quốc tế.
Với Việt Nam, sự phát triển của đất nước không thể tách rời sự phát triển của khu vực và thế giới. Chính vì vậy, thông điệp kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nội lực với ngoại lực, trở thành một yêu cầu có tính chiến lược. Đối ngoại, trong nghĩa đó, không chỉ là “sự vươn xa của đối nội”, mà còn là một kênh quan trọng để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; để ngăn ngừa nguy cơ khủng hoảng từ nơi xuất phát; để kiến tạo cục diện quốc tế thuận lợi cho công cuộc phát triển đất nước.
Tầm nhìn ấy kế thừa sâu sắc truyền thống ngoại giao của cha ông ta. Từ tư tưởng hòa hiếu, mềm dẻo nhưng kiên cường trong lịch sử dân tộc, đến đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối ngoại Việt Nam luôn biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa bản lĩnh và trí tuệ, giữa nguyên tắc và linh hoạt, giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Nhưng trong kỷ nguyên mới, yêu cầu đặt ra cao hơn: đối ngoại phải không chỉ giữ được môi trường hòa bình, ổn định, mà còn phải góp phần trực tiếp vào nâng cao nội lực, sức chống chịu và năng lực cạnh tranh của quốc gia.
Các đại biểu tham dự Hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã chỉ ra những yêu cầu mới đối với đối ngoại Việt Nam: chuyển từ “ngoại giao bảo vệ không gian phát triển” sang “ngoại giao kiến tạo năng lực phát triển quốc gia”; từ “hội nhập thị trường” sang “kiến tạo thị trường”; từ “tham gia luật chơi” sang “góp phần định hình luật chơi”.
Đây không chỉ là sự thay đổi về cách tiếp cận mà còn phản ánh tầm vóc mới của đất nước. Khi Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao, đối ngoại phải góp phần giải quyết những bài toán lớn về thị trường, công nghệ, vốn, tri thức, tiêu chuẩn, dữ liệu, nguồn nhân lực chất lượng cao và vị thế quốc gia.
Điều đó cũng đòi hỏi đối ngoại kinh tế chuyển từ tư duy “thu hút bằng mọi giá” sang lựa chọn có chọn lọc, ưu tiên công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và phát triển năng lực nội sinh. Các hiệp định thương mại tự do không chỉ nhằm mở rộng thị trường mà còn phải trở thành động lực nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế.
Trong cách tiếp cận đó, mỗi quan hệ chính trị tốt đẹp phải được chuyển hóa thành chương trình hợp tác thực chất; mỗi cam kết quốc tế phải được hiện thực hóa bằng kết quả cụ thể; mỗi khuôn khổ hợp tác phải tạo thêm cơ hội phát triển cho địa phương, doanh nghiệp và người dân.
Vì thế, một thông điệp rất nhân văn trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là: đối ngoại phải hướng tới mục tiêu cuối cùng là người dân được thụ hưởng. Đối ngoại, dù ở tầm chiến lược quốc gia hay trong từng chương trình hợp tác cụ thể, đều phải trở về với con người, với sinh kế, việc làm, tri thức, môi trường sống, cơ hội học tập, cơ hội sáng tạo và chất lượng cuộc sống của người dân.
Lan tỏa bản sắc Việt Nam, nâng tầm vị thế quốc gia
Một điểm nhấn quan trọng trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là cách nhìn đối ngoại như phương thức thể hiện bản lĩnh, bản sắc và tầm vóc Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong thế giới ngày nay, sức mạnh quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô kinh tế hay tiềm lực quân sự mà còn bằng khả năng tạo dựng lòng tin, lan tỏa giá trị và đóng góp cho các vấn đề chung của nhân loại. Với nền văn hóa giàu bản sắc, truyền thống yêu chuộng hòa bình và đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, Việt Nam có một nguồn lực mềm quan trọng để gia tăng ảnh hưởng quốc tế.
Các đại biểu tham dự Hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng
Vì vậy, ngoại giao văn hóa, ngoại giao di sản, thông tin đối ngoại, giao lưu nhân dân, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, hợp tác giáo dục, khoa học, công nghệ và các ngành công nghiệp văn hóa cần được phát huy mạnh mẽ hơn nhằm lan tỏa hình ảnh một Việt Nam tự cường, đổi mới, nhân văn và trách nhiệm.
Đặc biệt, khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu biến ngoại giao văn hóa, ngoại giao di sản thành nguồn lực nội sinh cho phát triển, có thể thấy một tư duy rất mới: văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là nguồn lực kinh tế, nguồn lực đối ngoại và nguồn lực xây dựng thương hiệu quốc gia.
Cùng với việc lan tỏa bản sắc, Việt Nam cũng cần chủ động đóng góp nhiều hơn vào các vấn đề toàn cầu. Từ biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, an ninh lương thực, gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc đến những lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, thương mại số hay tiêu chuẩn xanh, Việt Nam cần tham gia tích cực hơn vào quá trình xây dựng các khuôn khổ hợp tác và quản trị toàn cầu.
Đó chính là bước chuyển từ vị thế tham gia sang vị thế đóng góp, từ thích ứng với luật chơi sang góp phần hình thành luật chơi.
Từ tầm nhìn đến hành động thực chất
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tinh thần “hiểu sâu, làm đúng, làm đến nơi đến chốn, làm hiệu quả”; quán triệt Nghị quyết là để hành động, hành động để tạo chuyển biến và chuyển biến phải mang lại kết quả thực chất.
Điều đó đòi hỏi Nghị quyết số 06-NQ/TW nhanh chóng được cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch hành động với mục tiêu rõ, nhiệm vụ rõ, lộ trình rõ và trách nhiệm rõ. Hiệu quả thực thi phải được đo bằng kết quả cụ thể thay vì hình thức.
Các đại biểu tham dự Hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng
Đối ngoại trong kỷ nguyên mới không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan đối ngoại mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Mỗi bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, cơ quan báo chí, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và mỗi công dân Việt Nam đều có thể góp phần tạo dựng hình ảnh, uy tín và vị thế quốc gia.
Nhìn rộng ra, Nghị quyết số 06-NQ/TW và phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước gửi đi một thông điệp sâu sắc: đất nước muốn bước vào kỷ nguyên phát triển mới thì đối ngoại cũng phải bước vào một tầm vóc mới. Đó là nền đối ngoại của một Việt Nam độc lập, tự chủ, tự cường; một Việt Nam biết bảo vệ lợi ích chính đáng của mình bằng bản lĩnh và trí tuệ; một Việt Nam biết hợp tác, chia sẻ, đóng góp trách nhiệm với thế giới; một Việt Nam biết biến văn hóa, con người, di sản, khát vọng và niềm tin thành sức mạnh phát triển.
Lịch sử dân tộc đã nhiều lần chứng minh rằng, khi đất nước đoàn kết, khi lòng dân đồng thuận, khi đường lối đúng đắn, khi sức mạnh dân tộc được kết hợp với sức mạnh thời đại, Việt Nam có thể vượt qua những thử thách lớn lao và tạo nên những kỳ tích.
Hôm nay, trước những biến động chưa từng có của thế giới, bài học ấy càng có ý nghĩa. Đối ngoại trong kỷ nguyên mới không chỉ là cánh cửa để Việt Nam đi ra thế giới, mà còn là con đường để thế giới hiểu hơn, tin hơn, đồng hành nhiều hơn với Việt Nam trên hành trình xây dựng một đất nước hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Bùi Hoài Sơn