Bức tượng Phật bà Quan Âm chùa Hội Hạ (cao 320cm), bảo vật quốc gia, hiện trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Nguồn: VNFAM
Hai thí dụ nhỏ về số hóa di sản/tài sản văn hóa
Một họa sĩ sáng tác tranh sơn mài ở Việt Nam đã số hóa sáng tác của mình để quảng bá tác phẩm rộng rãi hơn nữa. Theo thời gian, giá bán tranh của anh tăng ít nhất là... gấp ba lần.
Tranh sơn mài có đặc thù về màu sắc các lớp chồng màu và độ chuyển sắc do ánh sáng. Do đó, để có được một tấm ảnh tranh sơn mài, nhất là tranh khổ lớn, họa sĩ và ê-kip chụp ảnh nhiều phen mất cả vài ba tiếng đồng hồ xoay qua đổi lại vị trí tranh, đèn rọi sáng… Sau buổi chụp ảnh đầu tiên, khá nhiều trong số 20 bức đã trong danh sách “phải chụp lại”. Tổng chi phí cho một bức ảnh đạt chất lượng tiệm cận “như tranh thật ngoài đời” có thể xê dịch từ 500.000 đồng đến tiền triệu.
Một bảo tàng mỹ thuật công lập mong muốn số hóa toàn bộ hiện vật của mình, tiến tới mở không gian bảo tàng số và thậm chí là một hệ sinh thái sản phẩm số… cũng vấp phải vấn đề không nhỏ trong quá trình tạo bản sao số các hiện vật cổ và tác phẩm ở định dạng ba chiều (scan 3D), như nguyên bản và bản sao tượng Phật cổ, các phù điêu ở đình, chùa cổ, các tác phẩm điêu khắc hiện đại. Chi phí cho một bản scan 3D này không hề thấp, xê dịch từ 500 nghìn đồng đến hai triệu đồng hoặc tính phí theo giờ, trong khi bảo tàng có tới hàng nghìn hiện vật. Vì là bảo tàng công lập và phải thuê thiết bị cùng nhân công bên ngoài để tiến hành việc số hóa này, nên đơn vị còn phải tuân thủ các thủ tục hành chính về báo giá, đấu thầu, rồi “đợi ngân sách” với không ít thời gian.
Trên đây chỉ là hai thí dụ thực tiễn trên tiến trình số hóa dữ liệu để tiến tới tạo lập tài sản văn hóa số trong bối cảnh hiện nay ở nước ta. Tuy có thể chỉ đáng được xem là thí dụ “nhỏ” nhưng chúng cho thấy từ nguồn lực tài chính, nhân sự đến cơ chế chính sách…, rất nhiều khía cạnh đều chứa đựng những khoảng cách nhất định giữa thực tiễn và kỳ vọng hình thành tài sản văn hóa số trong kỷ nguyên số.
Nhìn ở tầm mức rộng, các nền tảng phân phối nội dung sáng tạo số đều áp dụng chính sách điều hướng người dùng, thúc đẩy việc tạo các nội dung theo xu hướng (trend) bên cạnh việc cá nhân hóa trải nghiệm người dùng. Chính vì thế, để có thể tập trung và khai thác tối đa nguồn lực văn hóa ở định dạng nền tảng số, theo Thạc sĩ Hà Thị Vân Khanh (Trường đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh), việc đầu tư vào công nghệ và hạ tầng số phải được xem là một chiến lược then chốt, đóng vai trò “đòn bẩy” cho toàn bộ hệ sinh thái sáng tạo. “Trước hết, cần ưu tiên xây dựng hạ tầng dữ liệu số đồng bộ thông qua việc số hóa 3D các di sản, tài nguyên văn hóa và thiết lập hệ thống dữ liệu lớn (Big Data) để phân tích xu hướng tiêu dùng...”, bà Khanh nêu ý kiến.
Nhân lực luôn đóng vai trò cốt lõi
Hàng loạt sự vụ về chiếm dụng bản quyền sáng tạo… nhờ trí tuệ nhân tạo (AI), những “phát minh” người máy giúp nhân bản di sản tư liệu văn bản tại ranh giới mong manh giữa tự do sao chép, phát tán và tôn trọng bản quyền/quyền nhân thân của tác giả/chủ sở hữu trên môi trường không gian số đã và đang diễn ra. Tốc độ lan truyền, mức độ ảnh hưởng của một sản phẩm văn hóa-nghệ thuật trong môi trường số được ví von như tốc độ của ánh sáng, vì thế, một hành vi “bất cẩn” về bản quyền cũng có thể là tác nhân gây ra nhiều hệ lụy cho tất cả các bên liên quan.
Không chỉ vậy, nhiều hạn chế khác về nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp văn hóa cũng đã được các chuyên gia, nhà quản lý và giảng viên những cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho chính lĩnh vực này, chỉ rõ. Có thể kể đến sự thiếu hụt kỹ năng quản trị dự án sáng tạo, quản trị sản phẩm văn hóa và phát triển thị trường, thiếu khả năng liên kết, tầm nhìn chiến lược trong việc tạo nên chuỗi giá trị gia tăng từ một sản phẩm sáng tạo có sức hấp dẫn đại chúng... Góp ý tưởng sớm khắc phục vấn đề này, ông Nguyễn Thanh Việt, Chủ tịch Hội đồng Trường đại học Intracom, Hà Nội, đã đề xuất cơ chế thử nghiệm đặc biệt (sandbox) trong đào tạo nguồn nhân lực theo hướng liên ngành cho công nghiệp văn hóa, với sự tham gia của các doanh nghiệp, cá nhân làm việc trong lĩnh vực công nghệ và sáng tạo.
Ông Việt dẫn chứng thành công trong những năm gần đây nhờ áp dụng một cách linh hoạt mô hình “sandbox giáo dục” của các trường đại học trọng điểm về giáo dục sáng tạo ở Hàn Quốc và Đại học Nghệ thuật London (UAL), thể hiện qua sự cải thiện rõ rệt chất lượng học tập, nghiên cứu, sáng tạo của sinh viên khi còn trong trường và tỷ lệ thích ứng môi trường nghề nghiệp gia tăng sau khi tốt nghiệp. Tuy nhiên, ông Việt cũng chỉ rõ: “Mô hình này đòi hỏi tư duy đổi mới mang tính chiến lược của các nhà quản lý trong việc chủ động chuyển dịch từ cơ chế quản lý hành chính đóng sang mô hình tự chủ thích ứng, lấy sự tương thích với thị trường công nghiệp sáng tạo làm thước đo hiệu quả”. Để thấy, nhân lực vẫn luôn đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên sô
Mới đây, Báo Văn hóa và Trường đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức hội thảo Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số. Hội thảo có hai phần nội dung chính, đề cập định hướng và tầm nhìn phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam và các cách tiếp cận thực tiễn. Báo cáo đề dẫn và 72 tham luận của các nhà nghiên cứu, chuyên gia, nhà quản lý và đào tạo trong lĩnh vực văn hóa cùng một số văn nghệ sĩ và nhà báo gửi đến hội thảo gợi mở nhiều giải pháp trước mắt và lâu dài để bồi đắp, hoàn thiện hệ sinh thái sáng tạo công nghiệp văn hóa của Việt Nam.
Ngân Hà