Đáp ứng yêu cầu thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh
Ngày 26/2, tại cánh đồng Hợp tác xã Hữu Chung (xã Tân An, TP. Hải Phòng), Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI), Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng và các đối tác trong nước, quốc tế tổ chức lễ khởi động mô hình canh tác lúa hiệu quả cao, phát thải thấp, gắn với trình diễn công nghệ cơ giới hóa gieo sạ hàng kết hợp vùi phân.
Tại xã Tân An, TP. Hải Phòng, sử dụng giống lúa VNR20 với lượng giống gieo sạ khoảng 45 kg/ha. Ảnh: Kiều Tâm
Mô hình tại Hải Phòng được triển khai trên diện tích 2 ha tại Hợp tác xã Hữu Chung, sử dụng giống lúa VNR20 với lượng giống gieo sạ khoảng 45 kg/ha. Đây là điểm thứ ba trong chuỗi ba mô hình triển khai tại Đồng bằng sông Hồng vụ Đông Xuân 2026, sau Hưng Yên và Ninh Bình, thuộc khuôn khổ Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050”, với sự hỗ trợ của Dự án “Sử dụng phân bón đúng” do Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) tài trợ.
Phát biểu tại lễ khởi động, ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết, việc triển khai các mô hình thí điểm tại Đồng bằng sông Hồng có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện quy trình canh tác lúa phát thải thấp phù hợp với điều kiện sinh thái phía Bắc.
Các giải pháp như cơ giới hóa gieo sạ hàng kết hợp vùi phân, sử dụng phân bón hợp lý, quản lý nước theo phương pháp tưới ngập – khô xen kẽ, quản lý dịch hại tổng hợp và thực hành canh tác bền vững sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm chi phí và hạn chế phát thải khí nhà kính.
Đặc biệt, các mô hình này sẽ cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng để xây dựng hệ thống đo lường, báo cáo, thẩm định phát thải (MRV) trong sản xuất lúa. Đây là công cụ then chốt giúp ngành lúa gạo Việt Nam chứng minh tính minh bạch, khả năng giảm phát thải và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Theo ông Nguyễn Quốc Mạnh, sản xuất lúa giảm phát thải hiện không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu. Bởi lẽ, sản phẩm nông nghiệp ngày nay không chỉ cần bảo đảm an toàn thực phẩm mà còn phải đáp ứng các tiêu chí về môi trường, phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội.
Các thị trường nhập khẩu lớn như châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc ngày càng quan tâm đến truy xuất nguồn gốc, lượng phát thải khí nhà kính và tác động môi trường trong quá trình sản xuất. Đặc biệt, Liên minh châu Âu đã ban hành nhiều quy định nghiêm ngặt liên quan đến sản xuất không gây mất rừng, suy thoái rừng và giảm phát thải.
"Việc triển khai chuỗi mô hình không chỉ nhằm thử nghiệm giải pháp kỹ thuật mới mà còn đặt nền móng cho quá trình tái định hình phương thức sản xuất lúa theo hướng hiệu quả, bền vững và đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường", ông Mạnh chia sẻ.
Ông James Yi, Tùy viên nông nghiệp của USDA nhấn mạnh, lúa gạo vẫn là trụ cột của an ninh lương thực và sinh kế nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, nông dân đang phải đối mặt với chi phí đầu vào tăng cao, thiếu lao động và áp lực nâng cao hiệu quả sản xuất. Do đó, sử dụng phân bón hiệu quả theo nguyên tắc “4 đúng” là giải pháp quan trọng giúp tăng năng suất, giảm chi phí và hạn chế tác động môi trường.
Giải pháp kỹ thuật đồng bộ, gia tăng giá trị hạt lúa
Kết quả từ các mô hình tương tự tại Đồng bằng sông Cửu Long đã chứng minh hiệu quả rõ rệt khi chi phí sản xuất giảm đáng kể, trong khi năng suất và chất lượng vẫn được duy trì ổn định.
Lúa phát thải thấp mở hướng tái định hình sản xuất tại Đồng bằng sông Hồng. Ảnh: Kiều Tâm
Bà Lương Thị Kiểm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng cho biết, mô hình tại Hợp tác xã Hữu Chung là cơ sở quan trọng để đánh giá khả năng áp dụng các giải pháp canh tác lúa phát thải thấp trong điều kiện thực tế của địa phương. Thông qua mô hình, thành phố có thêm căn cứ để thúc đẩy áp dụng rộng rãi các thực hành canh tác bền vững, gắn với cơ giới hóa và sử dụng tài nguyên hiệu quả.
Ông Trần Thanh Hương, Giám đốc Hợp tác xã Hữu Chung nhận định, việc áp dụng cơ giới hóa gieo sạ kết hợp vùi phân giúp giảm chi phí đầu vào, thuận lợi cho tổ chức sản xuất đồng bộ và nâng cao hiệu quả canh tác.
TS. Jongsoo Shin, Giám đốc khu vực châu Á của IRRI cho biết, thành công của mô hình dựa trên các yếu tố cốt lõi như quản lý nước hợp lý, cơ giới hóa gieo sạ, tối ưu hóa sử dụng phân bón và áp dụng các thực hành canh tác bền vững. Khi triển khai đồng bộ, mô hình mang lại lợi ích kép: tăng hiệu quả sản xuất, nâng thu nhập cho nông dân và giảm phát thải ra môi trường.
Bà con nông dân phấn khởi vì mô hình cơ giới hóa giúp tăng năng suất, giảm chi phí nhân công. Ảnh: Kiều Tâm
Theo các chuyên gia trong ngành, từ các mô hình thí điểm tại Hưng Yên, Ninh Bình và Hải Phòng, một chuỗi liên kết sản xuất lúa phát thải thấp đang dần hình thành với sự tham gia của Nhà nước, nhà khoa học, hợp tác xã và doanh nghiệp.
Không chỉ dừng lại ở trình diễn kỹ thuật, chuỗi mô hình vụ Đông Xuân 2026 còn là quá trình thử nghiệm thực tiễn trên nhiều điều kiện sản xuất khác nhau. Các kết quả thu được sẽ tạo cơ sở dữ liệu quan trọng để cơ quan quản lý hoàn thiện quy trình kỹ thuật, xây dựng cơ chế chứng nhận và từng bước nhân rộng mô hình trên toàn vùng.
Về lâu dài, sản xuất lúa phát thải thấp không chỉ giúp giảm chi phí và bảo vệ môi trường mà còn góp phần nâng cao giá trị gia tăng của hạt lúa. Khi sản phẩm có thể chứng minh được nguồn gốc, mức phát thải thấp và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, giá trị thương mại sẽ được nâng cao rõ rệt.
Công nghệ cơ giới hóa gieo sạ hàng kết hợp vùi phân giúp bà con nông dân giảm chi phí nhân công lao động. Ảnh: Kiều Tâm
Đây cũng được xem là bước chuyển quan trọng trong tái định hình phương thức sản xuất lúa tại khu vực này. Không chỉ hướng tới mục tiêu giảm phát thải, các mô hình còn mở ra con đường nâng cao giá trị hạt lúa, củng cố thương hiệu gạo Việt Nam và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
TS. Jongsoo Shin, Giám đốc khu vực châu Á của IRRI, việc triển khai các mô hình tại Đồng bằng sông Hồng đang góp phần hoàn thiện các giải pháp canh tác lúa phát thải thấp phù hợp với điều kiện sinh thái phía Bắc. Khi các giải pháp được điều chỉnh phù hợp với từng vùng, khả năng nhân rộng trong sản xuất thực tế sẽ cao hơn.
Nguyễn Hạnh