Động lực cốt lõi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2026-2030

Động lực cốt lõi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2026-2030
2 giờ trướcBài gốc
Công nghiệp bán dẫn, AI và năng lượng tái tạo: Các “xương sống mới” 2026 - 2030
Ông Phạm Thái Sơn, giảng viên Trường ĐH Công thương TP.HCM, nhấn mạnh rằng, nếu tiếp tục dựa vào mô hình sản xuất truyền thống, Việt Nam sẽ không thể theo kịp nhịp phát triển của các nền kinh tế đang bứt phá nhờ công nghệ và sẽ mãi đứng tại chỗ.
Ông Sơn chỉ ra động lực đột phá hiện nay nằm ở ba trụ cột: kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tri thức; trong đó trọng tâm là công nghệ thông tin - dữ liệu - AI, công nghệ sinh học gắn với nông nghiệp và thực phẩm, năng lượng tái tạo và kinh tế tuần hoàn.
"Điểm mấu chốt không chỉ ở việc 'xuất hiện ngành mới' mà là làm cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo thấm vào mọi lĩnh vực, từ sản xuất đến dịch vụ; khi giá trị gia tăng đến từ trí tuệ chứ không phải lao động giá rẻ", ông Sơn đề xuất.
Để đi xa đến mục tiêu quốc gia phát triển năm 2045, ông Sơn đặt ra ba yêu cầu không thể bỏ qua.
Thứ nhất, giữ vững kỷ luật kinh tế vĩ mô, ví dụ như chính sách tài khóa, tiền tệ phải ổn định, minh bạch, không tăng trưởng quá nóng.
Thứ hai, đầu tư mạnh cho con người, nhất là vùng miền yếu thế hơn, để tăng trưởng không chỉ tập trung ở vài đô thị lớn.
Thứ ba, lấy phát triển bền vững và bao trùm làm nguyên tắc, không phải khẩu hiệu. Tăng trưởng phải tạo thêm cơ hội, không tạo thêm khoảng cách.
Kinh tế tuần hoàn được nhấn mạnh sẽ là động lực tăng trưởng quan trọng trong giai đoạn 2026 - 2030. Ảnh: TH
Cùng góc nhìn về động lực mới, ông Lê Bá Thường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật và văn hóa doanh nghiệp khẳng định, Nghị quyết 29-NQ/TW về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030 đã xác định những hướng đi mới. Muốn thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào mô hình thâm dụng lao động giá rẻ hay khai thác tài nguyên.
Theo ông, trong giai đoạn 2026 - 2030, bán dẫn và trí tuệ nhân tạo (AI) được xem là các động lực mang tính “xương sống", khi Việt Nam đón cơ hội lớn từ sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu. Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn đến năm 2030 đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái toàn cầu.
"Nếu thế kỷ 20 là kỷ nguyên của dầu mỏ, thì giai đoạn 2026 - 2030 là kỷ nguyên của năng lượng tái tạo và hydrogen xanh", ông Thường nhấn mạnh và dẫn giải thêm rằng, việc phát triển điện gió ngoài khơi và điện mặt trời không chỉ tăng an ninh năng lượng mà còn là “giấy thông hành” giúp hàng hóa Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn carbon và đi vào các thị trường khó tính như EU. Cùng với đó, phát triển kinh tế biển và logistics hiện đại nhằm chuyển hóa lợi thế địa lý thành lợi thế kinh tế.
"Việc hình thành các cảng trung chuyển quốc tế như Cần Giờ hay Lạch Huyện cùng hạ tầng logistics đồng bộ sẽ mở rộng không gian giao thương và nâng vị thế Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực", ông Thường nói thêm.
Phát triển kinh tế biển và logistics hiện đại sẽ đóng vai trò quan trọng trong 5 năm tới. Ảnh Hoàng Anh
Theo ông Thường, khát vọng 2045 là đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển và con đường này đầy “gió ngược” từ phân mảnh địa chính trị và tác động của biến đổi khí hậu. Để giữ ổn định vĩ mô trong bối cảnh thế giới đa cực, Việt Nam cần kiên trì đường lối “ngoại giao cây tre”: mềm dẻo nhưng kiên định; tiếp tục đa phương hóa và đa dạng hóa thương mại thông qua các hiệp định như CPTPP, EVFTA, RCEP.
Việc duy trì cân bằng giữa các cường quốc giúp Việt Nam trở thành “điểm đến an toàn” của dòng vốn FDI chất lượng cao, ông Thường nói.
Về kinh tế vĩ mô, ông nhấn mạnh Việt Nam phải ưu tiên kiểm soát lạm phát và duy trì kỷ luật tài khóa - tiền tệ là điều kiện tiên quyết. Tăng trưởng nhanh phải đi cùng lạm phát dưới 4% để bảo vệ sức mua của người dân và củng cố niềm tin thị trường.
Bên cạnh đó, tăng trưởng GDP cũng không có ý nghĩa nếu thành quả chỉ tập trung vào một nhóm nhỏ. Việc thu hẹp chênh lệch giàu nghèo đòi hỏi chiến lược đầu tư mạnh vào y tế, giáo dục và hạ tầng xã hội tại vùng sâu, vùng xa.
"Hệ thống an sinh phải bao trùm để mọi tầng lớp đều được thụ hưởng từ tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa", ông nhấn mạnh.
Nút thắt cổ chai: Thể chế chưa theo kịp, nhân lực chưa đủ mạnh
Nhấn mạnh về 'rào cản' trong 5 năm tới, ông Sơn cho rằng: thể chế và nhân lực là hai nút thắt quan trọng nhất.
“Nút thắt lớn nhất là thể chế chưa theo kịp tốc độ phát triển, còn nguồn nhân lực thì đông nhưng chưa đủ mạnh”, vị chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, nhận xét thẳng thắn.
Theo ông, thể chế vẫn nặng tiền kiểm, thủ tục phức tạp, chi phí tuân thủ cao. Còn nhân lực thì thiếu kỹ năng số, thiếu tư duy liên ngành, thiếu khả năng học suốt đời. Nếu không tháo được hai nút này, năng suất lao động sẽ tăng rất chậm.
"Muốn nâng năng suất lao động theo nghĩa thực, phải 'cởi trói' cho sáng tạo đột phá, phải đào tạo lại lực lượng lao động theo chuẩn mới, gắn chặt với nhu cầu doanh nghiệp", ông Sơn đề xuất.
Ở góc độ 'đột phá' nhân lực công nghệ, ông Sơn nhấn mạnh, đột phá không nằm ở số lượng kỹ sư mà ở chất lượng tư duy. Nhân lực nhiệm kỳ tới phải hội tụ được ba điểm. Thứ nhất là nền tảng khoa học - toán - công nghệ thật sự vững vàng, đặc biệt là kiến thức toán ứng dụng. Thứ hai là khả năng làm việc xuyên ngành, ví dụ như ngành điện tử và kết hợp với công nghệ thông tin. Thứ ba là tinh thần đổi mới sáng tạo, đây là yếu tố cực kỳ quan trọng, nhất là trong bối cảnh mà AI, công nghệ mới phát triển mạnh mẽ.
"Trong bối cảnh đó, các trường đại học phải chuyển từ 'dạy kiến thức' sang đào tạo năng lực giải quyết vấn đề thực, gắn chặt với doanh nghiệp và chuỗi giá trị. Khi đó, Việt Nam mới không chỉ là nơi lắp ráp mà là nơi tạo ra giá trị trí tuệ", ông Sơn đề xuất.
Nguồn nhân lực phải được nâng cao chất lượng hơn nữa. Ảnh: Hoàng Anh
Để tạo đà cho giai đoạn 2026 - 2030, ông Thường cũng cho rằng, có hai "nút thắt" lớn nhất cần tháo gỡ ngay lập tức là thể chế và nguồn nhân lực.
Hiện nay, hệ thống pháp luật đôi khi còn chồng chéo, gây tâm lý "ngại sai", "sợ trách nhiệm" trong một bộ phận cán bộ. Cần cụ thể hóa và thực hiện hiệu quả Nghị định số 73/2023/ND-CP về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Đặc biệt, cần một có hành lang pháp lý linh hoạt, các công ty khởi nghiệp và doanh nghiệp công nghệ yên tâm không rời bỏ thị trường nội địa để sang các nước láng giềng.
Bên cạnh đó, nút thắt nhân lực lại là cuộc đua đào tạo lại vì năng suất lao động của Việt Nam, bởi lẽ dù đã cải thiện nhưng vẫn thấp hơn so với các nước trong khu vực.
Trên thực tế, hiện nay Việt Nam đang thừa cử nhân những ngành truyền thống nhưng thiếu trầm trọng kỹ sư bán dẫn, chuyên gia AI và kỹ thuật viên trình độ cao. Vì thế cần tập trung đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn đến năm 2030 theo đề án của Chính phủ gắn kết chặt chẽ "Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp". Trong đó, doanh nghiệp phải là người đặt hàng và tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo.
Ở góc độ thị trường vốn và động thái đầu tư, ông Trương Hiền Phương, Giám đốc cấp cao Chứng khoán KIS Việt Nam, nhấn mạnh, giai đoạn 2026 - 2030 sẽ là “thời điểm vàng” để Việt Nam vượt bẫy thu nhập trung bình.
Động lực đột phá được ông Phương chỉ ra, đến từ hai yếu tố chính.
Thứ nhất là quyết tâm từ hệ thống, từ Trung ương và các bộ ngành trong việc thúc đẩy tăng trưởng GDP lên mức hai chữ số.
Thứ hai là tốc độ giải ngân và mở rộng đầu tư công, với hàng loạt dự án hạ tầng quy mô lớn như sân bay Long Thành, đường sắt cao tốc Bắc - Nam, mạng lưới metro tại Hà Nội và TP.HCM, cùng các tuyến vành đai kết nối vùng. Hạ tầng giao thông mở rộng tạo dư địa phát triển sản xuất - thương mại giữa các địa phương và nâng năng suất nền kinh tế.
Ngoài ra, xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng do xung đột địa chính trị khiến Việt Nam trở thành lựa chọn thay thế cho nhiều tập đoàn đa quốc gia, thúc đẩy dòng vốn FDI mở rộng mạnh hơn. Đặc biệt, từ tháng 9/2026, việc nâng hạng thị trường chứng khoán lên “mới nổi” dự kiến thu hút thêm dòng vốn gián tiếp, tạo lực đẩy bổ sung cho nền kinh tế khi FDI và FII cùng cộng hưởng.
Tuy nhiên, chuyên gia đến từ KIS Việt Nam thẳng thắn thừa nhận rằng, 'nút thắt cổ chai' về thể chế nằm ở hệ thống quy định và luật pháp chưa theo kịp bối cảnh mới, còn chậm cập nhật với xu hướng công nghệ và mô hình kinh tế hiện đại. Một số quy định đã lỗi thời hoặc chỉ phù hợp giai đoạn cũ, khiến quy trình thực thi kéo dài và làm giảm năng lực cạnh tranh.
"Điều này đòi hỏi cải cách đồng bộ, loại bỏ các quy định không còn phù hợp và tạo môi trường pháp lý thuận lợi hơn", ông đề xuất.
Vị chuyên gia này cũng kiến nghị, giải pháp trước hết là cải tiến thủ tục, quy trình hành chính và sửa đổi điều luật để giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần tăng quyền chủ động cho các địa phương đầu tàu như TP.HCM, Hà Nội, Hải Phòng, tạo cơ chế “dám nghĩ - dám làm” và có không gian thử nghiệm chính sách mới.
"Khi cơ chế bảo vệ cán bộ được xác lập rõ ràng, tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm sẽ được tháo gỡ, từ đó tạo động lực vận hành mạnh hơn cho nền kinh tế", ông Phương nhấn mạnh.
Quốc Hải
Nguồn Nhà Quản Trị : https://theleader.vn/dong-luc-cot-loi-thuc-day-tang-truong-kinh-te-viet-nam-2026-2030-d44066.html