NHIỀU THÁCH THỨC
Sầu riêng đã và đang khẳng định vị thế là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đặc biệt tại thị trường Trung Quốc.
Ngành hàng sầu riêng nước ta đòi hỏi sự minh bạch về nguồn gốc trong bối cảnh hiện nay.
Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT), từ năm 2015 - 2023, diện tích sầu riêng cả nước tăng bình quân 19,5%/năm; sản lượng tăng bình quân 14,7%/năm.
Sầu riêng quả tươi của nước ta đã xuất khẩu sang 28 quốc gia và vùng lãnh thổ; sầu riêng đông lạnh cũng được xuất khẩu sang 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng của nước ta sang Trung Quốc đạt khoảng 4 tỷ USD.
Đến nay, cả nước có 1.192 mã số vùng trồng và 96 mã số cơ sở đóng gói sầu riêng xuất khẩu. Đồng Tháp là địa phương dẫn đầu cả nước về số lượng mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói được cấp phép, tiếp đến là Lâm Đồng và Đắk Lắk.
Tuy nhiên, cùng với tốc độ tăng trưởng nhanh là những yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng, chỉ tiêu an toàn thực phẩm, TXNG và tính minh bạch của chuỗi sản xuất - chế biến - xuất khẩu. Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, hiện ngành hàng sầu riêng đang phải đối mặt với những khó khăn trong sản xuất.
Cụ thể, chất lượng sản phẩm không đồng đều, quy mô sản xuất nhỏ, phân tán. Diện tích mở rộng quá nhanh dẫn đến cung vượt cầu, phá vỡ quy hoạch sản xuất gây rủi ro về kinh tế.
Mặt khác, việc thiếu liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, hợp tác xã; các chuỗi sản xuất bị đứt gây khó khăn trong TXNG sản phẩm… cũng đang là khó khăn trong canh tác.
Ngành hàng sầu riêng cũng gặp khó khăn trong xuất khẩu khi Trung Quốc siết chặt kiểm tra kiểm dịch thực vật và chỉ tiêu an toàn thực phẩm. Chi phí và thủ tục tăng do phát sinh yêu cầu kiểm tra bổ sung chỉ tiêu an toàn thực phẩm; chưa có hệ thống TXNG. Sầu riêng không thể TXNG do các lô hàng xuất khẩu qua nhiều khâu trung gian.
Thực tế cho thấy, không ít vùng trồng sầu riêng và cơ sở đóng gói chưa duy trì đầy đủ các điều kiện quy định. Công tác quản lý hồ sơ lỏng lẻo, nhật ký ghi chép thiếu hoặc mang tính đối phó khiến việc TXNG gặp nhiều khó khăn.
Một số vi phạm phổ biến như trộn lẫn sầu riêng từ vùng không có mã số, sử dụng mã số của vùng khác, không truy xuất được nguồn gốc thực tế hoặc gian lận xuất xứ…
Hệ quả là một số mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói bị Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) thu hồi.
Việc không TXNG được nguyên nhân vi phạm cụ thể khiến doanh nghiệp khó khắc phục. Đồng thời, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín ngành sầu riêng Việt Nam và tiềm ẩn nguy cơ bị siết chặt, thậm chí đóng cửa thị trường.
TẬP TRUNG THỰC HIỆN
Để khắc phục những khó khăn, hướng đến phát triển bền vững ngành hàng sầu riêng, Bộ NN&MT đang phối hợp với các ngành, địa phương triển khai hệ thống TXNG.
Truy xuất nguồn gốc là hướng đi tất yếu để ngành hàng sầu riêng phát triển bền vững hiện nay.
Theo ông Võ Tấn Lợi, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng tỉnh Đồng Tháp, bài học lớn nhất rút ra là tuyệt đối không sử dụng chất tạo màu cho sầu riêng.
Trước đây, do yêu cầu thị trường, một số nơi nhúng màu để trái đẹp. Ban đầu dùng màu thực phẩm tự nhiên, nhưng sau đó có trường hợp sử dụng màu công nghiệp để giữ màu lâu, dẫn đến nhiễm Vàng O. Không nhúng màu là giải pháp an toàn nhất.
Cũng theo ông Võ Tấn Lợi, việc TXNG sẽ góp phần trả lại sự minh bạch trong sản xuất, xuất khẩu. Đây là giấy thông hành để xuất khẩu sầu riêng đặc biệt là sang thị trường Trung Quốc.
TXNG không khó nếu làm ăn minh bạch, nhưng cần cấp mã số vùng trồng đồng loạt để tránh tình trạng thiếu sản lượng cho mỗi container…
Cùng quan điểm, ông Lê Anh Trung, Chủ tịch Hiệp hội Sầu riêng Đắk Lắk cho rằng, chưa lúc nào, định hướng áp dụng TXNG lại cần thiết như hiện nay.
Trải qua những “sóng gió” trong vài năm trở lại đây, chúng ta mới thấy rằng, ngành hàng sầu riêng cần phải minh bạch đối với thị trường quốc tế.
Trong đó, trách nhiệm của doanh nghiệp, nông dân cũng như các đơn vị giám sát là cần phải thực hiện TXNG. Đây là điều bắt buộc và cần thiết.
Để làm được điều này cần phải có sự vào cuộc, chung tay của tất cả cơ quan, ban, ngành, địa phương, doanh nghiệp và đặc biệt là cơ quan giám sát cấp xã. Trong đó, cần tính toán cách thực hiện cho nông dân như thế nào…
Theo Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ - Bộ NN&MT Nguyễn Quang Tin, hiện các thị trường xuất khẩu lớn như: Trung Quốc, EU ngày càng khắt khe về mã số vùng trồng và nguồn gốc sản phẩm, đặc biệt sau Nghị định thư 11-7-2022.
Bên cạnh đó, tình trạng mạo danh mã số vùng trồng và trà trộn sản phẩm kém chất lượng vẫn diễn ra phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín nông sản Việt Nam…
Do đó, nếu không thực hiện TXNG, sầu riêng Việt Nam có nguy cơ mất lợi thế cạnh tranh và thậm chí có thể phải đối mặt với nguy cơ đóng cửa thị trường xuất khẩu.
Thực hiện Quyết định số 5272 ngày 13-12-2025 của Bộ trưởng Bộ NN&MT về ban hành Kế hoạch thí điểm TXNG quả sầu riêng, ngày 26-12-2025, Bộ NN&MT đã ra mắt hệ thống TXNG nông sản Việt Nam.
Công cụ này giúp người tiêu dùng kiểm tra thông tin sản phẩm; đồng thời, hỗ trợ cơ quan quản lý giám sát và truy vết hàng hóa.
Cũng theo đồng chí Nguyễn Quang Tin, chương trình thí điểm TXNG sầu riêng hướng tới các mục tiêu là nâng cao chất lượng, uy tín và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế.
Chương trình sẽ xây dựng mô hình chuỗi cung ứng sầu riêng đáp ứng yêu cầu TXNG, chất lượng và an toàn thực phẩm.
Đồng thời, thiết lập và thử nghiệm hệ thống TXNG sầu riêng trực tuyến theo thời gian thực; ghi nhận và quản lý dữ liệu từ trồng trọt đến phân phối; truy xuất thông tin qua mã QR trên tem sản phẩm; kết nối với Cổng TXNG quốc gia.
Chương trình huy động tối thiểu 5 doanh nghiệp (sản xuất, thu mua, đóng gói, vận chuyển, phân phối) tham gia thí điểm; cấp và gắn tem xác thực điện tử (QR/NFC/RFID) cho các lô sầu riêng đạt chuẩn… Lộ trình áp dụng hệ thống này sẽ theo 3 giai đoạn.
Ở giai đoạn đầu, Bộ NN&MT sẽ thí điểm truy xuất với trái sầu riêng trong 6 tháng tới và mở rộng sang các nhóm nông sản thiết yếu sau đó…
T. ĐẠT