Thách thức lớn
Vừa có thêm những định hướng quan trọng cho các đơn vị được giao nhiệm vụ triển khai công trình hạ tầng đường sắt có quy mô lớn, phức tạp về công nghệ bậc nhất từ trước đến nay, nếu chiểu theo Kết luận số 711/TB-VPQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện Nghị quyết số 172/2024/QH15 về chủ trương đầu tư dự án Đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam (tại Phiên họp thứ 56, tháng 4/2026).
Theo đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đánh giá cao những nỗ lực của Chính phủ trong việc triển khai thực hiện dự án thời gian qua và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, tiến độ thực hiện công trình thực tế đang có dấu hiệu chậm so với kế hoạch đề ra.
Phối cảnh một đoạn đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam qua TP. Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu
Để bảo đảm hoàn thành các mục tiêu tại Nghị quyết số 172/2024/QH15 của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ quyết liệt chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương đẩy nhanh giai đoạn chuẩn bị đầu tư; bảo đảm chất lượng và tiến độ lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi theo đúng quy định. Quá trình triển khai phải bảo đảm chặt chẽ, không vì áp lực tiến độ mà xem nhẹ các quy trình kỹ thuật, trình tự pháp lý, nhằm bảo đảm tuyệt đối chất lượng công trình và hiệu quả đầu tư của dự án.
Trước đó, trong Báo cáo số 2137/BC-UBKTTC15 gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào cuối tháng 3/2026, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cũng đã nêu một số nút thắt lớn đang làm chậm tiến độ dự án Đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, đặc biệt là tiến độ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi.
Dự án Đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam
Được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 172/2024/QH15 ngày 30/11/2024.
Tổng chiều dài khoảng 1.541 km.
Quy mô đầu tư: xây dựng mới toàn tuyến đường đôi, khổ 1.435 mm; tốc độ thiết kế 350 km/giờ; tải trọng 22,5 tấn/trục.
Hệ thống gồm 23 ga hành khách, 5 ga hàng hóa; phương tiện, thiết bị đồng bộ.
Vận chuyển hành khách là chủ yếu, đáp ứng yêu cầu lưỡng dụng phục vụ quốc phòng, an ninh; có thể vận tải hàng hóa khi cần thiết.
Sơ bộ tổng mức đầu tư khoảng 1.713.548 tỷ đồng (khoảng 67,34 tỷ USD).
Nguồn vốn: ngân sách nhà nước và các nguồn vốn hợp pháp khác.
Hình thức đầu tư: đầu tư công, đầu tư theo phương thức PPP và đầu tư kinh doanh.
Tiến độ: lập Báo cáo nghiên cứu khả thi từ năm 2025, cơ bản hoàn thành dự án vào năm 2035.
Được áp dụng 20 chính sách đặc thù, đặc biệt.
Theo Nghị quyết số 106/NQ-CP, Chính phủ đặt mục tiêu khởi công dự án vào tháng 12/2026. Tuy nhiên, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhận thấy, đến nay, 4 gói thầu tư vấn cốt lõi (TV-02, TV-03, TV-04, TV-05) vẫn chưa lựa chọn được nhà thầu và mới đang ở giai đoạn lập kế hoạch. Riêng gói thầu TV-01 (tư vấn hỗ trợ quản lý dự án), dù đã ký hợp đồng ngày 8/1/2026, nhưng nhiệm vụ mới dừng lại ở bước lập hồ sơ lựa chọn tư vấn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi.
Bên cạnh đó, thời gian lập Báo cáo nghiên cứu khả thi theo quy trình thiết kế kỹ thuật tổng thể dự kiến kéo dài 30 - 48 tháng. Như vậy, ngay cả khi lựa chọn được nhà thầu tư vấn trong thời điểm này, thì thời điểm hoàn thành Báo cáo nghiên cứu khả thi và đủ điều kiện khởi công dự án một cách “thực chất” chắc chắn sẽ vượt xa mốc tháng 12/2026.
Do đó, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho rằng, mục tiêu khởi công dự án Đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam vào tháng 12/2026 là thách thức lớn. Cơ quan này đề nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan liên quan đánh giá một cách thực chất, khoa học, khả thi về mốc thời gian triển khai dự án.
Đồng thời, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính lưu ý, quá trình triển khai cần bảo đảm thận trọng, không vì áp lực tiến độ mà xem nhẹ các quy trình kỹ thuật, trình tự pháp lý, nhằm bảo đảm tuyệt đối chất lượng công trình và hiệu quả đầu tư; đồng thời nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, giải pháp đột phá để báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định khi cần thiết.
Đường găng chính
Cần phải nói thêm rằng, việc lựa chọn đơn vị tư vấn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi hiện được xác định là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, đồng thời là “đường găng” quyết định tiến độ của dự án Đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam.
Ông Nguyễn Danh Huy - Thứ trưởng Bộ Xây dựng cho biết, Báo cáo nghiên cứu khả thi sẽ làm rõ các tham số then chốt nhằm xác định chính xác công nghệ, quy mô, hướng tuyến, tổng mức đầu tư, phương án phân chia dự án thành các dự án thành phần, cũng như thiết kế kỹ thuật tổng thể (FEED).
“Đây cũng là những cơ sở quan trọng để cấp có thẩm quyền xem xét, lựa chọn hình thức đầu tư, bao gồm đầu tư công, đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) và đầu tư kinh doanh, qua đó bảo đảm tính khả thi về tài chính, tiến độ và khả năng, mức độ tham gia của các doanh nghiệp trong nước” - lãnh đạo Bộ Xây dựng cho biết.
Bên cạnh đó, dù được áp dụng nhiều cơ chế đặc thù, công tác giải phóng mặt bằng của dự án khó có thể “đi trước một bước” do phụ thuộc vào hướng tuyến và các yếu tố kỹ thuật cơ bản do tư vấn xác định trong quá trình lập Báo cáo nghiên cứu khả thi. Hiện nay, các địa phương mới chỉ triển khai công tác kiểm đếm, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất và đầu tư các khu tái định cư.
Được biết, trong Báo cáo số 74/BC-CP ngày 10/3/2026 gửi Quốc hội về việc thực hiện Nghị quyết số 172/2024/QH15, Chính phủ cũng đánh giá, việc rút ngắn tiến độ để bảo đảm khởi công dự án vào tháng 12/2026 là rất khó khăn, thách thức và chưa có tiền lệ.
Theo đó, thời gian lập Báo cáo nghiên cứu khả thi (thực hiện thiết kế FEED thay cho thiết kế cơ sở) đối với một dự án có quy mô, phạm vi đặc biệt lớn như dự án Đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, lần đầu triển khai tại Việt Nam, dự kiến kéo dài 30 - 48 tháng.
Thực tiễn quốc tế cho thấy, thời gian lập Báo cáo nghiên cứu khả thi đối với các dự án đường sắt tốc độ cao (không thực hiện thiết kế FEED thay cho thiết kế cơ sở) thường kéo dài đáng kể. Ví dụ, tuyến Mumbai - Ahmedabad (Ấn Độ), dài 508 km, có thời gian lập Báo cáo nghiên cứu khả thi 18 tháng; tuyến Seoul - Busan (Hàn Quốc) dài 412 km, có thời gian lập Báo cáo nghiên cứu khả thi tới 76 tháng…
Được biết, tại Nghị quyết số 98/NQ-CP ngày 6/4/2026 về việc triển khai Nghị quyết số 265/2025/QH15 của Quốc hội, đối với việc lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, Chính phủ giao Bộ Xây dựng thực hiện từ quý IV/2026 đến quý IV/2026.
Đồ họa: Phương Anh
Anh Minh