5 triết lý cốt lõi để xây dựng một đạo luật thực chất
- Thưa ông, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Việt Nam đánh giá như thế nào về sự cần thiết của việc sửa đổi Luật lần này và kỳ vọng lớn nhất của cộng đồng doanh nghiệp là gì?
- Có thể nói, dự thảo Luật lần này được cơ quan soạn thảo chuẩn bị khá công phu, bài bản, thể hiện rõ nỗ lực thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển DNNVV là lực lượng nòng cốt quan trọng nhất của khu vực kinh tế tư nhân, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Từ thực tiễn đồng hành với cộng đồng DNNVV, tôi cho rằng lần sửa đổi này cần đáp ứng theo 5 triết lý nền tảng theo quan điểm của VINASME.
Thứ nhất, DNNVV cần nhất là môi trường kinh doanh công bằng, minh bạch, ổn định, chi phí tuân thủ thấp. Chính sách hỗ trợ phải được thiết kế theo năng lực thật của doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, chứ không thể đặt ra điều kiện, hồ sơ, quy trình giống như đối với doanh nghiệp lớn.
Thứ hai, hỗ trợ DNNVV phải chuyển mạnh từ tư duy “xin - cho” sang tư duy phục vụ và đồng hành. Doanh nghiệp cần biết rõ mình được hỗ trợ gì, điều kiện ra sao, nộp hồ sơ ở đâu, thời hạn giải quyết bao lâu, ai chịu trách nhiệm nếu chính sách chậm đi vào thực tế. Vì vậy, luật cần đặt ra yêu cầu số hóa quy trình, công khai tiêu chí, giảm tối đa giấy tờ lặp lại và có đầu mối hỗ trợ đủ gần doanh nghiệp.
Thứ ba, chính sách hỗ trợ phải dựa trên mạng lưới triển khai rộng, trong đó các hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức tư vấn, cơ sở đào tạo và các nền tảng số cần được xác định là lực lượng đồng hành; nhà nước không thể tự mình làm hết.
Thứ tư, cần có cách tiếp cận nhân văn, thực tiễn hơn đối với gần 6 triệu hộ kinh doanh. Đây chính là nguồn lớn nhất để hình thành doanh nghiệp trong tương lai. Đây cũng là khu vực đã có thị trường, có kinh nghiệm, có quan hệ khách hàng, nhưng còn hạn chế về kế toán, pháp lý, quản trị, lao động, hóa đơn, thuế và chuẩn mực báo cáo. Nếu vừa chuyển đổi đã phải đối mặt ngay thanh tra, xử phạt, chi phí tuân thủ thì họ sẽ không mạnh dạn lên doanh nghiệp.
Thứ năm, mục tiêu của Luật không chỉ là hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó, mà phải tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ có thể lớn lên, doanh nghiệp hộ gia đình có thể chính thức hóa, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo có thể thử nghiệm, và khu vực kinh tế tư nhân có thêm niềm tin để đầu tư dài hạn. Một đạo luật tốt phải tạo được hệ sinh thái kinh tế tư nhân mạnh, chứ không chỉ tạo thêm danh mục chính sách hỗ trợ.
- Dự thảo Luật đã bổ sung nhiều chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp. Đối chiếu với triết lý trên, ông nhận xét thế nào về các chính sách này?
- Tôi cho rằng đây là một trong những điểm mới rất đáng chú ý và có ý nghĩa thực tiễn lớn. Nếu được hỗ trợ đúng cách, đây sẽ là nguồn hình thành doanh nghiệp rất quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân.
Dự thảo đưa ra nhiều chính sách rất sát sườn, như quy định trong năm đầu tiên chuyển đổi từ hộ kinh doanh, doanh nghiệp được ưu tiên hướng dẫn, cảnh báo, hỗ trợ khắc phục đối với vi phạm lần đầu, nếu không có yếu tố gian lận, trục lợi hoặc cố ý vi phạm. Tinh thần ở đây là quản lý để doanh nghiệp trưởng thành, chứ không phải quản lý để doanh nghiệp sợ hãi.
Tuy nhiên, để quy định này thực sự khả thi cần làm rõ ít nhất ba vấn đề. Một là, xác định cụ thể các nhóm vi phạm được ưu tiên nhắc nhở, hướng dẫn khắc phục, như sai sót kế toán ban đầu, khai báo hành chính chưa đầy đủ, chậm cập nhật thông tin, lỗi kỹ thuật trong hóa đơn, chứng từ nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng. Hai là, quy định rõ trường hợp không áp dụng cơ chế này, như gian lận thuế, buôn lậu, hàng giả, cố tình trốn tránh nghĩa vụ, gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc vi phạm nhiều lần. Ba là, giao trách nhiệm cho cơ quan thuế, đăng ký kinh doanh, lao động, bảo hiểm và chính quyền địa phương phối hợp hướng dẫn một cửa, tránh tình trạng mỗi cơ quan yêu cầu một kiểu làm doanh nghiệp mới chuyển đổi bị quá tải.
Điều quan trọng hơn là phải có gói hỗ trợ hậu chuyển đổi trong 24 tháng đầu. Hộ kinh doanh sau khi thành doanh nghiệp cần được hỗ trợ mẫu sổ sách kế toán đơn giản, phần mềm hóa đơn - kế toán chi phí thấp, tư vấn thuế ban đầu, hướng dẫn hợp đồng lao động, tiêu chuẩn chất lượng, tiếp cận ngân hàng, thương mại điện tử và kỹ năng quản trị dòng tiền. Đây là những việc rất cụ thể, không nhất thiết tốn quá nhiều ngân sách nhưng tác động trực tiếp đến khả năng sống còn của doanh nghiệp mới.
Điểm quan trọng nữa là cần huy động mạnh vai trò của hiệp hội doanh nghiệp, hội ngành nghề, các tổ chức tư vấn và nền tảng số trong hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi. Nếu chỉ giao cho cơ quan nhà nước, nguồn lực sẽ rất khó bao phủ tới hàng triệu hộ.
Mở rộng cách thức đánh giá tín dụng
- Một trong những nội dung được cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là chính sách tín dụng. Theo ông, dự thảo Luật cần gỡ vấn đề này thế nào?
- Tờ trình của Bộ Tài chính đã nêu rõ: dư nợ dành cho DNNVV hiện chỉ khoảng 19 - 20% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, trong khi khu vực này chiếm hơn 98% số doanh nghiệp. Điều đó cho thấy khả năng tiếp cận vốn của DNNVV còn rất hạn chế.
Sâu xa hơn, vấn đề nằm ở tư duy thẩm định. Hệ thống tín dụng hiện vẫn thiên về tài sản thế chấp là bất động sản, máy móc, nhà xưởng và báo cáo tài chính theo chuẩn của doanh nghiệp lớn. Trong khi đó, nhiều DNNVV đi thuê mặt bằng, thuê nhà xưởng, tài sản cố định không lớn; tài sản quan trọng nhất của họ lại là hợp đồng, dòng tiền, đặc biệt là khả năng xoay vòng vốn rất nhanh, dữ liệu bán hàng, thương hiệu, quyền sở hữu trí tuệ, khách hàng ổn định, năng lực cung ứng và vị trí trong chuỗi giá trị.
Vì vậy, tôi cho rằng Luật cần mở đường rõ hơn cho việc thừa nhận và khai thác các loại tài sản mới trong tiếp cận tín dụng. Quyền sở hữu trí tuệ, hợp đồng mua bán, đơn hàng, dòng tiền tương lai, dữ liệu kinh doanh, tài sản số hợp pháp, quyền khai thác thương mại và các khoản phải thu cần từng bước được chuẩn hóa để có thể trở thành căn cứ đánh giá năng lực vay vốn. Đây không phải là hạ chuẩn tín dụng, mà là mở rộng chuẩn thẩm định theo hướng phù hợp hơn với kinh tế số và mô hình kinh doanh hiện đại.
Cùng với đó, cần phát triển hệ thống thông tin tín dụng và chấm điểm tín nhiệm phù hợp với DNNVV. Một doanh nghiệp nhỏ có lịch sử nộp thuế tốt, giao dịch ngân hàng đều, hóa đơn điện tử minh bạch, dòng tiền ổn định, ít tranh chấp, tuân thủ pháp luật tốt thì phải được ghi nhận là có “tài sản tín nhiệm”. Nếu chỉ nhìn vào bất động sản thế chấp, chúng ta sẽ bỏ lỡ rất nhiều doanh nghiệp tốt nhưng chưa đủ tài sản hữu hình.
Tôi cũng đề nghị chính sách tín dụng đối với DNNVV cần gắn với chuỗi cung ứng. Khi một doanh nghiệp nhỏ tham gia cung ứng cho doanh nghiệp lớn, có hợp đồng đầu ra rõ, có lịch sử giao hàng tốt, ngân hàng có thể thẩm định trên cơ sở dòng tiền và uy tín của cả chuỗi. Cách tiếp cận này sẽ thực tế hơn, giảm rủi ro hơn và giúp vốn đi đúng vào sản xuất, kinh doanh.
- Xin cảm ơn ông!
Đan Thanh thực hiện