Đưa điện ảnh thành ngành công nghiệp văn hóa chủ lực

Đưa điện ảnh thành ngành công nghiệp văn hóa chủ lực
một giờ trướcBài gốc
Mở rộng quy mô, tăng trưởng đều
Theo Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, điện ảnh được xác định là một trong những lĩnh vực công nghiệp văn hóa cần tập trung phát triển có trọng tâm, trọng điểm. Tín hiệu tích cực của điện ảnh Việt Nam gần đây cho thấy, điện ảnh nước nhà đã hình thành những nhân tố cơ bản cho sự phát triển bền vững, đóng góp vào sức mạnh mềm quốc gia.
Số liệu được công bố tại Hội nghị Đối tác chiến lược ngành điện ảnh do CJ CGV Việt Nam tổ chức tháng 3/2026 tại TP. Hồ Chí Minh cho thấy, điện ảnh Việt tăng trưởng đều đặn từ năm 2023 đến nay. Tính riêng năm 2025, tổng doanh thu toàn thị trường đạt mức xấp xỉ 6.140 tỷ đồng với hơn 70 triệu lượt vé phát hành. Thị phần điện ảnh trong nước vươn lên 62%, với 55 phim Việt ra rạp, đánh dấu mức tăng cao nhất từ trước đến nay. Nhiều tác phẩm gặt hái thành công lớn về mặt thương mại. Trong năm 2025 ghi nhận 9 bộ phim đạt mức doanh thu trên 100 tỷ đồng, tiêu biểu nhất là Mưa đỏ với mức doanh thu kỷ lục vượt ngưỡng 700 tỷ đồng.
Từ đầu năm 2026 đến nay, nhiều phim Việt đạt mức doanh thu trăm tỷ
Năm 2026, thị trường tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Dữ liệu từ Box Office Vietnam cho thấy, trong quý I, tổng doanh thu phim Việt đã đạt 1.080 tỷ đồng. Con số này tuy thấp hơn cùng kỳ năm ngoái (1.108 tỷ đồng) nhưng đánh dấu năm thứ hai liên tiếp điện ảnh nội địa đạt thành tích ấn tượng. Đáng chú ý, nhiều phim vượt mốc trăm tỷ đồng, trải đều ở nhiều thể loại, đề tài như các phim Thỏ ơi (447 tỷ đồng), Nhà ba tôi một phòng (111 tỷ), Thiên đường máu (126 tỷ đồng), Báu vật trời cho (103 tỷ đồng), Tài (113 tỷ đồng), Quỷ nhập tràng 2 (134 tỷ đồng). Tính đến ngày 5/5, phim Việt dẫn đầu doanh thu quý II gồm: Phí Phông: Quỷ máu rừng thiêng (hơn 180 tỷ đồng), Heo năm móng (gần 100 tỷ đồng).
Sự gia tăng này thể hiện tính dịch chuyển rõ rệt trong xu hướng và thị hiếu của khán giả. Nhiều khán giả không còn xem phim nội như một lựa chọn mang tính “ủng hộ”, mà sẵn sàng bỏ tiền cho những tác phẩm khiến họ thấy đáng xem. Thị trường điện ảnh Việt theo đó mà mở rộng, nền tảng vững hơn, không còn chỉ đặt cược vào dòng phim thương mại, giải trí. Với đà này, điện ảnh Việt Nam được dự đoán sẽ sớm cán mốc 100 triệu vé bán ra mỗi năm.
Liên kết chuỗi giá trị
Mặc dù sở hữu tiềm năng to lớn và đã gặt hái những thành tựu nhất định, song điện ảnh Việt Nam vẫn đang đối diện với nhiều thách thức. Điều này được nêu ra tại Hội thảo khoa học Xây dựng hệ sinh thái điện ảnh ở Việt Nam: Thực trạng, giải pháp và chính sách do Viện Văn hóa nghệ thuật, Thể thao và Du lịch tổ chức ngày 24/4 vừa qua. Nguyên Phó Cục trưởng Cục Điện ảnh, TS. Nguyễn Thu Hà cho rằng, mức tăng trưởng ấn tượng hiện tại không đồng nghĩa với phát triển bền vững. Sự phân hóa về doanh thu khi phần lớn lợi nhuận tập trung vào một số ít phim thành công có thể làm mất cân đối trong chuỗi giá trị. Vấn đề cốt lõi này thực ra nằm ở cơ chế vận hành của hệ sinh thái điện ảnh.
Cùng quan điểm, Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật, Thể thao và Du lịch, PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Phương chỉ ra điện ảnh Việt đã có đủ các yếu tố cấu thành như phát triển dự án, sản xuất, phát hành, thị trường và công chúng, nhưng khâu vận hành còn rời rạc. Liên kết mang tính ngắn hạn chưa thể tạo ra một dòng chảy liên tục xuyên suốt trong toàn hệ thống. Trong khi đó, ngành cũng thiếu vắng các thiết chế trung gian quan trọng như quỹ phim, trung tâm phát triển dự án, chợ dự án, quỹ bảo lãnh tín dụng nghệ thuật hay các quỹ đầu tư rủi ro chuyên biệt cho lĩnh vực văn hóa… “Sự thiếu hụt này làm điện ảnh Việt bị phụ thuộc vào các dự án riêng lẻ”, PGS. TS. Nguyễn Thị Thu Phương nhận định.
Về cơ bản, điện ảnh Việt mới ở giai đoạn tăng trưởng thị trường chứ chưa đạt mức “tài chính hóa” ngành công nghiệp. Nhà nghiên cứu Nguyễn Anh Tuấn phân tích, hiện cấu trúc vốn đầu tư cho phim Việt tương đối khép kín và thiếu đa dạng. Các ngân hàng thương mại vẫn e ngại và gần như vắng bóng trong việc tài trợ nguồn vốn vay cho hoạt động sản xuất phim. Nguyên nhân là các dự án phim không chứng minh được dòng tiền tương lai, cấu trúc tài chính chưa minh bạch về dữ liệu thị trường. Trong khi đó, ngân hàng cũng chưa được trang bị năng lực thẩm định chuyên môn, đồng thời phim ảnh chưa được định giá và thiếu quy định cụ thể về việc dùng quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản thế chấp rõ ràng. Điều này dẫn đến rủi ro tài chính đổ dồn lên vai nhà sản xuất, quy mô sản xuất bị giới hạn và hình thành xu hướng làm phim an toàn, lặp lại.
Để hiện thực hóa tầm nhìn đưa điện ảnh trở thành ngành công nghiệp văn hóa chủ lực, có khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế, cần giải pháp đồng bộ. Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam quy định, tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển trọng tâm một số ngành, lĩnh vực công nghiệp văn hóa, trong đó có điện ảnh, sẽ được hưởng những ưu đãi, hỗ trợ thuế. Cơ chế này được kỳ vọng góp phần xúc tiến thị trường, giảm gánh nặng cho người làm phim.
PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương cho rằng, quan trọng nhất là đặt người làm phim đúng vào vai trò trung tâm sáng tạo. Song song với cơ chế hỗ trợ của Nhà nước, phát triển hệ sinh thái điện ảnh thời gian tới cần tăng cường thiết chế trung gian, tổ chức hệ sinh thái theo hướng liên kết, hình thành các trung tâm và trục phát triển. Quá trình này đòi hỏi sự kiên trì, tính chuyên nghiệp và phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, tổ chức tài chính và người làm nghệ thuật, để nền điện ảnh đóng góp vào công nghiệp văn hóa quốc gia.
Hải Đường
Nguồn Đại Biểu Nhân Dân : https://daibieunhandan.vn/dua-dien-anh-thanh-nganh-cong-nghiep-van-hoa-chu-luc-10416745.html