Du khách thích thú khi được tìm hiểu quá trình sinh trưởng của các loại rau. Ảnh: HỒ QUÂN
Trên chính mảnh đất từng bị bỏ quên, từng chứng kiến những thất bại ban đầu, anh đưa nông nghiệp, giáo dục và du lịch cộng đồng hòa làm một, tạo nên mô hình đầy sức hút đối với những vị khách phương Tây yêu thích trải nghiệm.
Từ những chuyến đi xa…
Dừng xe trước cổng nông trại được trang trí khá đơn giản, đúng kiểu nhà vườn, tôi ấn tượng với lối đi được tạo nên từ những viên gạch sắp đặt tỉ mỉ, xen giữa hàng sim, chà là xanh mướt.
Lúc này, màn sương sớm chưa tan hẳn, song các vị khách Tây đã thức giấc. Họ đến từ nhiều quốc gia khác nhau, cùng sinh hoạt, làm việc như những thành viên trong gia đình. Người đến trước hướng dẫn người đến sau, tất cả nhanh chóng hòa vào nhịp sống chậm rãi, bình yên của nông trại.
Một mô hình vận hành trơn tru, mang đến trải nghiệm rất thật cho du khách. Để có thành quả này, Trần Thanh Hà đã tham gia các chương trình tu nghiệp sinh, tình nguyện viên trong lĩnh vực nông nghiệp ở nước ngoài và tranh thủ đi nhiều nơi để trải nghiệm đời sống, văn hóa. Qua hơn 20 quốc gia, không phải mô hình nào cũng phù hợp với điều kiện trong nước. Điều anh mang về lớn nhất là tư duy mới về quản lý, vận hành và cách kết hợp nông nghiệp với giáo dục, du lịch.
“Nếu bê nguyên mô hình nông nghiệp của nước bạn về Việt Nam thì chắc chắn sẽ thất bại, do khác biệt về điều kiện sản xuất, thị trường và cần nguồn vốn rất lớn. Vẫn là nông nghiệp, nhưng giá trị lớn nhất không đến từ rau, củ quả hay gà vịt, mà từ dịch vụ thông qua các hoạt động du lịch. Khách đến nông trại không chỉ tham quan, mà sống cùng dân bản địa, cùng làm, cùng chia sẻ. The Hygge Farm đang đi theo hướng đó”, anh Hà chia sẻ.
Xóm “Mồ Côi” hút khách
Nông trại hôm nay được xây dựng từ chính mảnh vườn của gia đình anh, nằm trong một xóm biệt lập, cách xa khu dân cư, bao bọc bởi những rẫy keo hun hút. Cách đây hơn 20 năm, xóm này có 7 hộ sinh sống. Nhưng cảnh hiu vắng, buồn tẻ không thể giữ chân người, các gia đình lần lượt rời đi, trong đó có gia đình anh Hà. Họ chỉ trở lại vào mùa tỉa đậu hay khai thác keo. Cái tên xóm “Mồ Côi” cũng bắt đầu từ đó.
Năm 2021, anh Hà về quê khởi nghiệp trong ánh mắt hoài nghi của xóm giềng. Anh phát dọn toàn bộ keo, cải tạo đất, từng khu vực trồng cây xanh, trồng rau, nuôi bò, thả gà, đào ao, làm khu lưu trú, sinh hoạt ngoài trời… dần hình thành. Nguồn thu từ du lịch những năm qua đều được tái đầu tư trở lại nông trại.
“Những vị khách đầu tiên là các tình nguyện viên tham gia xây dựng nông trại. Sau khi trải nghiệm, với những điều hài lòng, họ để lại nhiều đánh giá tích cực trên các website, mạng xã hội uy tín về du lịch. Nhờ vậy, The Hygge Farm dần được biết đến. Trong 4 năm qua, hơn 1.500 tình nguyện viên đã đến đây, vừa giao lưu văn hóa, vừa góp sức xây dựng nông trại”, anh Hà nói.
Nông trại giáo dục mà anh Hà hướng đến là nơi du khách sống và làm việc như những nông dân thực thụ. Họ không chỉ làm giàu tri thức, hiểu biết văn hóa bản địa thông qua việc tự tay trồng trọt, chăn nuôi, giao tiếp với bà con nông dân, mà còn mở rộng hiểu biết về văn hóa các quốc gia khác qua quá trình tương tác giữa các tình nguyện viên, du khách.
Bà Kirsten Syme, du khách đến từ New Zealand cho biết, khi tìm hiểu về du lịch Việt Nam qua các website, bà đặc biệt ấn tượng với những đánh giá dành cho mô hình nông trại giáo dục của The Hygge Farm. Bà nhanh chóng sắp xếp chuyến trải nghiệm một tuần tại đây để con trai có cơ hội du lịch, mở mang kiến thức trong môi trường giáo dục thú vị.
“Xu thế du lịch hiện nay không còn là đặt tour, đi các điểm nổi tiếng, chụp ảnh, ở khách sạn, mà là trải nghiệm, làm việc, tận hưởng cuộc sống và cho đi. The Hygge Farm thực sự mang lại cho mẹ con tôi cảm giác đó. Ở đây, chúng tôi dễ dàng kết nối với người dân bản địa và bạn bè đến từ nhiều quốc gia; được chia sẻ, học tập thông qua môi trường nông trại và các hoạt động giao lưu văn hóa”, bà Syme nói.
Khi nông trại vận hành ổn định, anh Trần Thanh Hà bắt đầu tính đến giá trị cộng đồng. Trải nghiệm được mở rộng ra ngoài khuôn viên nông trại. Du khách được giao lưu, trò chuyện nhiều hơn với bà con nông dân, tham gia cấy lúa, tỉa đậu, làm bún, chế biến phở sắn…
Nhìn nụ cười hài lòng của khách Tây, bà con xóm giềng dần có cái nhìn khác về những việc anh Hà đang làm. Họ sẵn sàng góp sức bằng cách dọn dẹp vệ sinh đường làng, sân vườn, khu sản xuất, nồng hậu đón tiếp khi khách có nhã ý ghé thăm.
Cô nấu ăn, bà chủ tiệm tạp hóa, chị bán bữa sáng - những người tiếp xúc hằng ngày với khách Tây được anh Hà và các tình nguyện viên dạy “tiếng bồi” để việc kết nối dễ dàng hơn. Vài câu giao tiếp đơn giản gắn với công việc thường ngày như chào hỏi, giới thiệu hàng hóa, giá tiền… ban đầu còn khó đọc, khó nhớ, nhưng trò chuyện lâu ngày cũng trở nên lưu loát. Nhờ “tiếng bồi”, du khách có trải nghiệm tốt hơn, khả năng quay lại mua hàng cũng cao hơn, giúp bà con nơi đây có thêm nguồn thu nhập.
Xóm “Mồ Côi” hôm nay không còn là cái tên gợi buồn. Nơi ấy đã có người quay về, có khách Tây ghé thăm, có những câu chuyện được sẻ chia bằng nụ cười và thứ “tiếng bồi” mộc mạc. Giữa vùng đồi từng bị lãng quên, những mầm xanh đang âm thầm lớn lên, như chính hành trình trở về của chàng trai Trần Thanh Hà.
HỒ QUÂN