Đừng biến cuộc di dời đại học thành phép toán cơ học và chia lô bán nền

Đừng biến cuộc di dời đại học thành phép toán cơ học và chia lô bán nền
2 giờ trướcBài gốc
Về mặt lý thuyết quy hoạch, đưa các trường đại học ra ngoại ô là một bước đi đúng đắn nhằm giảm áp lực dân số và giao thông cho lõi di sản. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay khiến việc di dời khó khả thi chính là sự thiếu vắng hạ tầng kết nối.
Các "Đô thị đại học" (University Town) chỉ thực sự phát huy tác dụng khi được kết nối bằng hệ thống giao thông công cộng sức chở lớn như đường sắt đô thị (MRT, LRT). Hiện tại, tiến độ các tuyến đường sắt của chúng ta chưa bắt kịp nhu cầu di chuyển của hàng chục nghìn sinh viên và giảng viên. Nếu cứ khiên cưỡng di dời, chúng ta sẽ vô tình tạo ra những "ốc đảo" tách biệt hoàn toàn với nhịp sống đô thị.
Trường đại học không chỉ là những dãy giảng đường, mà là một hệ sinh thái sống động bao gồm nhà ở, dịch vụ, giải trí và thị trường việc làm. (Ảnh minh họa: Lê Vượng)
Hơn nữa, một trường đại học không chỉ là những dãy giảng đường, mà là một hệ sinh thái sống động bao gồm nhà ở, dịch vụ, giải trí và thị trường việc làm. Sự thiếu hụt hệ sinh thái này tại các vùng quy hoạch mới khiến sinh viên và giảng viên vẫn mang tâm lý bám trụ lại nội đô để hưởng tiện ích. Nếu không giải quyết được bài toán "kết nối hạ tầng" và "an sinh", tiến trình di dời sẽ tiếp tục kéo dài.
Kiến tạo "Đô thị đại học" sống động: Không thể chỉ có giảng đường
Để tránh vết xe đổ của các dự án "vườn không nhà trống" ở vùng ven, chúng ta cần thay đổi tư duy: Không xây dựng các khu trường học đơn lập, mà phải quy hoạch một "Thành phố trong thành phố". Dưới góc nhìn kinh tế đô thị, một hệ sinh thái hoàn chỉnh cần dựa trên 4 trụ cột cốt lõi:
Thứ nhất, kết nối hạ tầng theo mô hình TOD (Transit-Oriented Development): phải có ít nhất một tuyến giao thông công cộng sức chở lớn kết nối trực tiếp vào lõi khu đại học. Cùng với đó là hệ thống giao thông nội khu thân thiện với làn xe đạp, xe điện, phố đi bộ, xóa bỏ ranh giới địa lý bằng tốc độ di chuyển.
Thứ hai, quy hoạch nén và đa chức năng: mô hình hiện đại ưu tiên sự đan xen để tạo ra sự sống động 24/7. Cần có nhà ở thương mại đa dạng phân khúc, siêu thị, bệnh viện, trường phổ thông chất lượng cao để giảng viên chuyển từ "dịch cư con thoi" sang "định cư lâu dài". Đặc biệt, không thể bỏ qua "Kinh tế đêm" với các không gian văn hóa, quán cà phê, hiệu sách, giữ cho đô thị không "chết" sau giờ hành chính.
Thứ ba, trục tương tác "Nhà trường - Doanh nghiệp - Thị trường": đây là trái tim của đô thị đại học. Việc quy hoạch sẵn quỹ đất cho công viên khoa học, vườn ươm công nghệ gắn với phòng thí nghiệm sẽ tạo ra việc làm tại chỗ, biến nơi đây thành trung tâm đổi mới sáng tạo, giữ chân sinh viên ra trường thay vì để họ quay lại nội đô tìm việc.
Thứ tư, thiết kế không gian mở và tính bản sắc: kiến trúc đại học nên mang tính biểu tượng, thoát khỏi sự cứng nhắc. Quảng trường, công viên, mặt nước phải là nơi kết nối cộng đồng, tạo "hồn" cho một thành phố trẻ trí tuệ.
Tái thiết quỹ đất vàng: "Trả nợ" không gian cho lõi đô thị
Khi các trường đại học rời đi, một câu hỏi lớn được đặt ra: Chúng ta sẽ làm gì với những khu đất "vàng" nội đô?
Bài toán tái thiết quỹ đất này là sự cân não giữa lợi ích kinh tế ngắn hạn và phát triển bền vững. Tôi kiên định với nguyên tắc cốt lõi: Phải trả lại không gian cho đô thị thay vì tiếp tục nén dân số. Ưu tiên hàng đầu là "Hạ tầng xanh". Lõi nội đô đang ngột ngạt vì thiếu cây xanh và mặt nước. Thay vì phân lô bán nền, những mảnh đất này phải hóa thành công viên, quảng trường mở. Dưới lòng đất, có thể xây dựng các bể điều tiết ngầm để giải quyết vấn nạn ngập úng.
PGS. TS Lưu Đức Hải - Viện trưởng Viện Nghiên cứu đô thị và Phát triển hạ tầng. (Ảnh NVCC)
Kế đến là bù đắp hạ tầng xã hội. Sự quá tải hiện nay đến từ độ trễ của hạ tầng so với tốc độ tăng dân số. Quỹ đất di dời là "cơ hội vàng" để xây thêm trường công lập, trung tâm y tế cơ sở và hệ thống bãi đỗ xe thông minh ngầm, giải phóng vỉa hè, lòng đường.
Đặc biệt, tuyệt đối không thỏa hiệp với việc phá hủy di sản. Nhiều trường đại học trong nội đô, đặc biệt là các công trình kiến trúc thời Pháp, mang giá trị lịch sử vô giá. Đồ án quy hoạch Hà Nội đầu tiên được lập năm 1923, cách đây hơn một thế kỷ. Tầm nhìn cho 100 năm tiếp theo phải bắt đầu bằng việc bảo tồn di sản của 100 năm trước. Cần ứng dụng mô hình tái sử dụng thích ứng, biến giảng đường cũ thành bảo tàng, không gian sáng tạo, thay vì đập bỏ để xây cao ốc thương mại.
Cuối cùng, mọi phương án tái thiết đều phải chịu sự kiểm duyệt gắt gao của bài test Đánh giá tác động giao thông (TIA). Nếu một tổ hợp dự án mới mọc lên tạo ra lượng giao thông lớn hơn cả khi trường đại học còn hoạt động, thì phương án đó thất bại hoàn toàn về mặt quy hoạch. Tuyệt đối không tạo thêm áp lực mới cho nội đô.
Dĩ nhiên, thách thức lớn nhất là nguồn lực tài chính để thu hồi và đền bù. Nhưng nếu Nhà nước có cơ chế đặc thù, dám dùng ngân sách hoặc đấu giá quyền sử dụng đất ở các khu vực khác để "đổi lấy" không gian công cộng tại các khu đất vàng này, chúng ta mới có thể giữ lại được một lõi đô thị đáng sống cho thế hệ tương lai.
Lê Vượng (Ghi)
Nguồn SVVN : https://svvn.tienphong.vn/dung-bien-cuoc-di-doi-dai-hoc-thanh-phep-toan-co-hoc-va-chia-lo-ban-nen-post1833740.tpo