Xe tăng của Lữ đoàn 203, Sư đoàn 304, Quân đoàn 2 tiến vào giải phóng Đà Nẵng 29/3/1975. Ảnh: TTXVN
Trước khi nghỉ hưu, ông Nguyễn Chí Phong là giảng viên Trường Đại học Bách khoa (Đại học Đà Nẵng). Trong ký ức người thầy quê ở xã Hiền Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình (cũ) này vẫn còn vẹn nguyên những ngày tháng trực tiếp tham gia chiến dịch mùa xuân 1975.
Theo bước hành quân vào Đà Nẵng
Ông Phong nhớ lại: “Sáng 24/3/1975, Tiểu đoàn 8 tiến vào giải phóng Tam Kỳ, chiếm giữ khu hậu cần của sư đoàn 2 ngụy. Tôi lúc đó là trung đội trưởng, cùng với một đồng chí đại đội trưởng nữa được phân công làm phó ban quân quản thị xã Tam Kỳ, trưởng ban là đồng chí trung đoàn phó trung đoàn 31. Đội hình sư đoàn vẫn tiến công ra hướng Đà Nẵng, còn đơn vị quân quản chúng tôi với 36 người thì ở lại cùng địa phương ổn định tình hình thị xã. Đến ngày 28/3/1975 thì nhận được lệnh trên chuẩn bị tham gia giải phóng Đà Nẵng nhưng lúc nào đi thì chưa rõ. Đến 2 giờ sáng ngày 29/3, đồng chí trung đoàn phó ra lệnh hành quân”.
Không có phương tiện gì, cả trung đội hành quân bộ suốt từ thị xã Tam Kỳ ra đến Hương An. Lúc ấy trời cũng đã sáng. Ông Phong vẫn còn nhớ cây cầu đã bị địch đánh sập từ trước. Xe pháo ta ùn lại bên bờ nam sông, nào là pháo 105 ly, pháo 122 ly, pháo 130 ly, pháo cao xạ… Trong khi từng nhóm bộ đội được người dân địa phương dùng thuyền đưa qua sông thì các cỡ trọng pháo của ta liên tục rót đạn về phía cảng Sơn Chà và sân bay Đà Nẵng. Tiếng pháo gầm vang càng thôi thúc cán bộ chiến sĩ hối hả hành quân.
Trung đội của ông Phong hành quân ra tới bờ nam sông Thu Bồn thì lại thấy cầu Câu Lâu bị địch đánh sập. Ghe thuyền được huy động đưa bộ đội qua sông. Dọc đường, người dân gánh ra những gánh cơm nắm vắt lá chuối dúi vào tay các chiến sĩ. Hành quân cấp tốc thế này, anh nuôi các đơn vị làm sao mà kịp nấu nướng?! Đúng là sức mạnh của nhân dân vô cùng to lớn, thế trận chiến tranh nhân dân là vô địch!
Binh bại như núi lở
Lực lượng qua sông đi tiếp thì thấy hai bên đường quân địch bỏ lại xe pháo la liệt. Nào là xe GMC, xe Dodge, xe Jeep lùn, Jeep cao… Có những chiếc xe còn kéo nguyên khẩu pháo, có chiếc vẫn nổ máy rì rì bên vệ đường. Nhiều loại súng ống, quân trang quân dụng cũng bị vất lại. Đúng là binh bại như núi lở! Ra một đoạn nữa tới Vĩnh Điện thì bắt đầu thấy lính ngụy lũ lượt chạy vào. Kẻ thì mặc độc chiếc quần đùi; kẻ mặc quần lính, áo dân sự; người thì mặc quần lính, áo may ô… Không ai mũ nón gì cả, mặc dù lúc ấy trời đang mưa.
Quân giải phóng làm chủ các cơ quan của ngụy quyền trong thành phố Đà Nẵng. Ảnh: TTXVN
Thấy binh lính địch rã ngũ chạy vào lũ lượt, vị trung đoàn phó chỉ huy nhóm hành quân liền ra lệnh chặn lại hỏi trong số họ có ai biết lái xe không. Cuối cùng ba người lính Sài Gòn dáng vẻ nhanh nhẹn và khỏe mạnh được chọn. “Các anh hãy đi tìm chiếc xe có thể chở được một trung đội, xăng xe đầy đủ đem về đây để đưa chúng tôi ra Đà Nẵng. Ra đến nơi, chúng tôi sẽ cấp giấy ghi nhận thành tích giúp quân Giải phóng cho các anh”, vị trung đoàn phó ra lệnh. Ba người lính đi một lúc rồi lái về chiếc GMC với xăng dầu đầy bình. Cả trung đội ông Phong lên xe, ra tới cầu Vĩnh Điện thì một nhóm chiến sĩ giải phóng chặn lại, đề nghị không nên đi tiếp vì từ đây ra quân ta chưa làm chủ, tình hình chưa biết ra sao.
Ông Phong kể tiếp: “Nghe nói vậy, ba người lính Sài Gòn hoảng sợ, nói như tế: “Lạy các anh Giải phóng - bây giờ họ không dùng từ Việt cộng nữa - các anh cho bọn em về, đi tiếp nguy hiểm quá. Bọn em còn vợ còn con...”. Thế là chúng tôi phải động viên một hồi lâu họ mới lên xe lái tiếp”.
Trung đội của ông Phong ra gần tới Hòa Cầm thì thấy từ quân trường Hòa Cầm lính túa ra đi hàng hàng lớp lớp. Sau này mới biết ngày hôm trước, một bộ phận lính của quân trường này làm binh biến, bỏ chạy, nhưng hôm nay vẫn còn đông. Họ cứ thế đi xuôi về vùng ta đã làm chủ. Đến ngã tư Hòa Cầm thì ba người lính lái xe một mực không đi tiếp nữa, họ bảo: “Thưa các anh Giải phóng, hồi sáng đến chừ bọn em đã có công đưa các anh từ trong Vĩnh Điện ra tới đây. Đề nghị các anh cấp cho bọn em cái giấy xác nhận để bọn em về”.
Vị trung đoàn phó liền rút xắc cốt, lấy ra mấy tờ giấy in sẵn, nhỏ cỡ bằng ba ngón tay, hỏi tên họ từng người ghi vào giấy, ký xong đưa. Những người lính chế độ Sài Gòn cầm mảnh giấy, vẻ mặt băn khoăn rồi nói: “Dạ các anh đóng cho con dấu, chứ giấy mà không có dấu đỏ như thế này làm sao có giá trị?!”. Vị trung đoàn phó liền trả lời: “Vì tình hình thời chiến, để đảm bảo bí mật chúng tôi không thể đóng dấu. Cái quan trọng là con số ghi trên mép tờ giấy. Khi các anh đem giấy này về trình diện, người ta nhìn con số sẽ biết đơn vị nào cấp. Vậy yên tâm chưa?!”
Thời khắc tiến vào Bộ Tư lệnh Quân đoàn I
Không có xe cộ gì nữa, cả trung đội lại hành quân bộ. Hồi đó con đường từ Cẩm Lệ xuống ngã tư Quân đoàn, chỗ Bộ Tư lệnh Quân khu V đóng bây giờ mang tên là đường Võ Tánh - tên viên tướng của Gia Long thời đánh nhau với Tây Sơn. Vì không nắm rõ địch tình nên cả trung đội không dám hành quân trên đường lộ mà men theo các thôn xóm bên phải con đường để tiến xuống trụ sở Quân đoàn I.
“Việc đầu tiên là chúng tôi leo lên sân thượng tầng ba, chỗ có cái “chuồng cu” nhổ cờ ba que của chế độ Sài Gòn, quân kỳ của quân đội ngụy và quân kỳ của Quân đoàn I vứt xuống dưới đất. Tiếc sao hồi đó không giữ lại làm hiện vật. Rồi tỏa ra đi chiếm giữ các nơi. Xong chúng tôi bước vào một căn phòng lớn, ở giữa có một bộ bàn rộng rất đẹp, mặt mica lót lên trên một tấm bản đồ lớn tô các mũi tên xanh - đỏ, ghi diễn biến chiến sự vùng I chiến thuật đến ngày 28/3/1975. Xung quanh tường cũng treo la liệt bản đồ. Hồi ở rừng, chỉ quen thấy bàn hội họp của cấp chỉ huy toàn cây rừng ghép lại, chừ nhìn phòng họp giao ban của đám tướng tá quân đoàn I thấy choáng ngợp. Tôi nhớ trên bàn ấy còn một đĩa xôi và con gà luộc ăn dở cùng đĩa muối tiêu. Một anh lính bốc xôi định ăn tiếp, tôi ngăn lại: “Không được, ăn chết đó”. Trong phòng giao ban này cũng có nhiều điện thoại, có chiếc vẫn đang kêu tít tít, lính ta nghịch cầm ống nghe lên “Alo, alo”.
Rồi chúng tôi sang phòng của viên trung tướng tư lệnh vùng I chiến thuật - Ngô Quang Trưởng. Trên tường gian cửa chính có đính 3 ngôi sao. Tôi nghĩ: quái lạ, trung tướng mà sao lại 3 sao, rồi chợt nhớ ra quân đội ngụy còn có cấp chuẩn tướng nữa. Phòng làm việc của viên tư lệnh chẳng còn gì, ngoài một cuốn sổ trực ban, chắc là của cấp dưới vứt lại. Rồi chúng tôi sang khu triển lãm của bọn chúng. Chỗ ấy bây giờ là Bảo tàng Quân khu V. Sang đó mới thấy hồi đánh nhau, chúng thu được không ít vũ khí của ta, súng lớn súng nhỏ, đến cối 120 ly đều có. Vài khẩu tiểu liên chúng còn chú thích rõ tên tuổi, chức vụ của người sử dụng. Thế mới ghê chứ! Thậm chí tàu không số của ta bị đánh chìm, chúng cũng trục vớt đem về “khoe chiến quả”. Vậy mới thấy con đường đến ngày toàn thắng của ta phải trả bằng bao nhiêu hy sinh tổn thất!”.
Mà nói đâu xa, trên chặng đường chiến dịch, từ giải phóng Tiên Phước ngày 10/3 đến tiến vào thị xã Tam Kỳ 24/3/1975, ông Nguyễn Chí Phong đã nhìn thấy biết bao xương máu đồng đội ngã xuống. Riêng cuộc giải phóng Đà Nẵng trong ngày 29/3/1975 thì khá êm thấm, đến mức sau này nhiều người ví von “không bể cái bóng đèn, không rụng chiếc lá”. Chiến tranh qua rồi, ngẫm lại đó cũng là hạnh phúc của những người lính. Hơn nửa thế kỷ đã đi qua, nhưng với ông Phong và những người lính Sư đoàn 2 anh hùng, ấn tượng về thời khắc tiến vào giải phóng Đà Nẵng trong ngày lịch sử ấy vẫn sống động, thiêng liêng và đầy tự hào.
DUY HIỂN