Về để ăn Tết với gia đình con trai, và ngày rằm tháng giêng, cùng các cháu về Hải Dương thăm quê ngoại và Bắc Ninh thăm quê nội, mặc dù chúng tôi không còn họ hàng gần ở đó nữa.
Quê nội tôi, họ Nguyễn, ở làng Niềm Xá, trước đây là một xã ở sát thị trấn Bắc Ninh, nay đã trở thành một khu của thành phố đã và đang tiếp tục mở rộng. Ngôi nhà tôi sinh ra, trước mặt cổng thành (kiến trúc Vauban đời Nguyễn), cha mẹ tôi đã phá sập trước khi tản cư kháng chiến. Mùa đông năm 1975, tôi còn nhận ra đống gạch đổ nát, dưới chân dốc dẫn lên đường tàu Hà Nội - Lạng Sơn. Ngày nay, ngôi nhà chắc đã nhường chỗ cho một biệt thự hay một tòa nhà cao tầng. Nhưng tôi muốn về lại Bắc Ninh, viếng mộ chị ruột tôi - chị Thục Viên, để các cháu được thấy cụ thể quê nội: ít nhất, theo bản đồ Google, tên Niềm Xá còn được đặt cho một nghĩa trang thành phố, tuy làng Niềm của tôi không còn.
Quê ngoại, đối với tôi, nhất là trong những năm tuổi thơ, là Hà Nội, là phố Thuốc Bắc, là hiệu thuốc bắc Hòa Tường của bà ngoại tôi, ở số 63. Từ lúc tôi sinh ra đến ngày Toàn quốc kháng chiến (tôi lên sáu), mẹ tôi thường ốm đau, mỗi lần bệnh kéo dài, mẹ rời Bắc Ninh, đưa chị Thục Viên và tôi ra Hà Nội ở với ông bà ngoại. Bên ngoại, đối với tôi, là phố Thuốc Bắc, là bà ngoại, mà chúng tôi quen gọi là “Bà Nhãn” (vì chúng tôi hay xin bà cho ăn long nhãn sấy khô, cũng là một vị thuốc bổ).
Nhà giáo Nguyễn Ngọc Giao và con trai út Nguyễn Ngọc Phạm Đôn (nhạc sĩ Nodey) trước khu mộ tổ tiên, gia đình ở quê nhà làng Vạc, tháng 2.2026. Ảnh: CTV
Kỷ niệm tuổi thơ của tôi không nhiều, nhưng in sâu vào ký ức. Năm Ất Dậu, tôi lên năm, là nạn lụt, nạn đói. Hằng ngày, đường phố Hà Nội lóc cóc tiếng xe bò chở xác người. Xác nạn nhân trận đói chồng chất trên xe, được che bằng một tấm chiếu manh, nhưng đôi mắt bọn trẻ chúng tôi còn ghi nhớ hình ảnh những cẳng chân khẳng khiu thò ra ngoài manh chiếu. Cũng như còn nhớ những gói cơm và thức ăn mà “Bà Nhãn” sai chúng tôi mang ra vỉa hè, sát cửa hiệu thuốc bắc, cho bà con nông dân mất mùa lũ lượt kéo nhau ra thành phố.
Thú thực, tuổi thơ là tuổi chưa có ý thức: kỷ niệm “đẹp” của tôi là nhà bị ngập 1m, tôi sung sướng ngồi trong cái nồi đồng “ba mươi” (mà giáp Tết mẹ tôi dùng để nấu bánh chưng), dùng đôi đũa cả làm mái chèo, bơi đi bơi lại khắp nhà. Một kỷ niệm trong sáng hơn: hàng năm vào đầu hè, mùa sen nở, bà ngoại đặt mua hai ba gánh hoa sen để ướp trà mạn. Không gì sung sướng hơn với bọn trẻ con chúng tôi là được nằm ngủ trưa trên gạch hoa được lót bằng tấm nệm những lá sen hồng thoang thoảng hương thơm.
Lớn hơn một chút, tôi được biết thêm về bà ngoại, và ghi nhớ mãi dáng ngồi của bà trên tấm phản, bắt mạch và cắt thuốc cho bệnh nhân. Về danh nghĩa, ông ngoại tôi mới là ông lang, cho đơn thuốc, bà tôi chỉ có việc thừa hành. Không hiểu sao, tiếng lành đồn xa, bà tôi được bệnh nhân coi là “mát tay”, nên mỗi khi đến cửa hiệu để cắt thuốc, trông thấy ông ngồi đó là họ đi thẳng, đợi lúc nào ông lên gác hay đi vắng, họ mới vào để xin bà khám bệnh và bốc thuốc.
Tôi nhớ “Bà Nhãn” không biết đọc biết viết quốc ngữ, cũng chưa bao giờ tôi thấy bà cầm bút lông viết chữ nho, nhưng bà đọc thông thạo chữ Hán trên các đơn thuốc hay các ô thuốc dọc ngang trên bức tường sau quầy, và tất nhiên thành thạo dùng chiếc cân tiểu li để cắt những vị thuốc mà quá liều lượng sẽ tác động trái nghịch. Ở “Bà Nhãn”, “lương y” và “từ mẫu” là một, nhưng chuyện đó, người lớn cấm chúng tôi không được nói ra, cùng lắm chỉ được nói sau lưng ông ngoại.
Tác giả trướcmộ bà ngoại. Ảnh: CTV
Tản cư được ba năm, ở một làng cánh đồng chiêm, bên sông Ngũ Huyện Khê, Bắc Ninh, thì kinh tế kiệt quệ, mẹ đưa chúng tôi hồi cư về Hà Nội, vay vốn anh chị em để mở tiệm thuốc, phố Phúc Kiến (nay là Lãn Ông), thẳng góc với phố Thuốc Bắc - cha tôi vẫn ở trên Việt Bắc, làm việc ở nha trung học cùng với bác Hoàng Ngọc Phách (cũng là hàng xóm ở thị xã Bắc Ninh). Ba năm sau, bị sốt nặng, cha tôi được rời vùng kháng chiến, về Hà Nội với gia đình.
Cửa hàng thuốc bắc của mẹ tôi, cùng với cửa hàng của hai bác và cô tôi là thế hệ thứ ba lập nghiệp ở Hà Nội. Gốc quê ngoại ở tận Hải Dương, nhưng tôi không hề biết cụ thể ở đâu. Chỉ biết hàng năm, mấy chú họ xa lên thăm, mang “quà quê” là những chiếc lược bí (chải chấy) đẹp, chắc và bền. Tôi yên trí đây hẳn là đặc sản của đất Hải Dương. Tình cờ năm ngoái, nói chuyện gốc gác với một chị bạn, hàng xóm của tôi ở Paris, chị nói: “Ở Hải Dương, chỉ có một làng làm lược bí, là làng Vạc”. Chị bạn nói chắc vì mẹ chị là người làng Vạc, được chôn cất ở quê.
Tôi vội viết thư cho chú em họ (con dì con già) ở Cộng hòa Séc, được xác nhận thông tin ấy. Mùa thu năm ngoái, gặp nhau ở Hà Nội, các em họ ngoại rủ tôi rằm tháng giêng về làng Vạc dự lễ giỗ tổ họ Lê và thăm mộ ông bà ngoại chúng tôi. Ở tuổi 86, còn đi lại vững vàng, nhưng một hai năm nữa, biết đâu không thể đi xa. Vì vậy, tôi quyết định về nước ngay Tết năm nay. Con trai út và vợ nghe vậy, cũng quyết định từ TP.HCM cùng ra Bắc để biết quê nội quê ngoại và hưởng thụ lễ hội mùa xuân đồng bằng sông Hồng.
Thế là sáng ngày 3.3 (rằm tháng giêng Bính Ngọ), chúng tôi đã đến làng Vạc, thăm nhà thờ chi họ, rồi nhà thờ tổ họ Lê, buổi chiều ra viếng mộ ông bà ngoại. Lần đầu tiên, đọc trên bia mộ, tôi mới biết tên con gái của “Bà Nhãn” là Nguyễn Thị Chính (1879 - 1960), cũng quê ở làng Vạc. Nhưng trên gia phả họ Lê, vẽ kín một bức tường ở nhà thờ chi họ, bên cạnh tên ông ngoại Lê Ích Mậu, dòng dưới là tên các con, trong đó có mẹ và dì tôi, Loan và Liên.
Đứng trước mộ bà ngoại, tôi tưởng nhớ khuôn mặt phúc hậu, đôi dái tai dài như tai Phật, nụ cười hiền từ, bàn tay khéo léo nặn cho chúng tôi những con giống tuyệt đẹp, bóc từng múi bưởi hồng, chắp thành con sư tử bày cỗ Trung thu, bàn tay bốc thuốc chữa bệnh cho bao người trong suốt nửa thế kỷ. Bà không được đi học, chỉ đọc được chữ nho (tên thuốc) mà không biết viết, không biết chữ quốc ngữ. Tôi nghĩ tới cô Hai Liên, chồng chết năm 1954, mấy tháng trước khi cô sinh đôi hai con (thứ bảy và thứ tám), đã một mình nuôi tám người con ăn học đến nơi đến chốn trong những thập niên 1950 - 1970.
Và tôi nhớ tới chị Thục Viên hơn tôi bốn tuối, đột tử trong một tai nạn giao thông mùa hè 1953, ở tuổi 17. Khi mẹ tôi đưa chúng tôi hồi cư về Hà Nội năm 1949, anh tôi và tôi tiếp tục đi học, chị nghỉ học từ năm đầu trung học ở nhà giúp mẹ coi cửa hàng thuốc.
Tác giả thăm mộ chị Thục Viên. Ảnh: CTV
Sáng 16 tháng giêng (4.3.2026), tại nghĩa trang Niềm Xá, Bắc Ninh, chúng tôi đứng trước mộ chị, thẳng hàng với 5 ngôi mộ ông bà nội, các bác, anh chị họ.
Tôi không vái lạy, không thầm khấn một lời xin lỗi. Tôi không có “lỗi” gì cả trong việc chị phải bỏ học: thời ấy, con gái được đi học vài ba năm rồi ngừng là chuyện bình thường, “học thêm để viết thư cho trai à?”, chị tôi ngừng học để anh em tôi tiếp tục học bình thường, là chuyện bình thường, mọi người, có lẽ cả chị tôi, đều coi là bình thường.
Điều làm tôi hối hận chính là sự bình thản coi đó là chuyện bình thường. Tìm lại ký ức, tôi không hề nhớ mình có một chút ngạc nhiên - không nói chi đến phẫn nộ.
Cháu nội Nina, 6 tuổi, sang năm vào tiểu học, đứng cạnh tôi, đánh vần bia mộ của “bà Thục Viên”.
Niềm an ủi, hy vọng, tin tưởng của tôi là Nina và thế hệ của cháu, sẽ không bao giờ cho phép coi là bình thường việc cố nội, bà nội, bác nội... không được đi học, hay phải bỏ học sau lớp hai, lớp ba.
Nguyễn Ngọc Giao