Đòn bẩy Hormuz
Quang cảnh bờ biển Iran và đảo Qeshm ở eo biển Hormuz ngày 10/12/2023. Ảnh: REUTERS/TTXVN
Theo kênh CNN ngày 29/3, eo biển Hormuz là nơi mà khoảng 1/5 lượng dầu và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) của thế giới thường đi qua. Hiện nay, Iran đang tìm cách biến eo biển này thành nguồn doanh thu tiềm năng hàng tỷ USD mỗi năm, đồng thời là điểm gây sức ép đối với nền kinh tế toàn cầu.
Từ lâu, Iran đã cảnh báo sẽ đóng eo biển Hormuz trong trường hợp bị tấn công, nhưng ít người cho rằng nước này sẽ thực hiện hoặc nếu có thì tác động cũng không đến mức làm gián đoạn dòng chảy thương mại toàn cầu. Quy mô tác động thực tế dường như đã làm gia tăng tham vọng của Iran, khi các yêu cầu mới cho thấy nước này muốn biến đòn bẩy đó thành một công cụ lâu dài hơn.
Hoạt động vận chuyển qua eo biển Hormuz gần như đình trệ do các cuộc tấn công của Iran, khiến thị trường năng lượng toàn cầu rơi vào hỗn loạn và buộc các quốc gia ngoài khu vực vịnh Ba Tư phải áp dụng biện pháp khẩn cấp để đảm bảo nguồn cung nhiên liệu.
Bà Dina Esfandiary, phụ trách khu vực Trung Đông tại Bloomberg Economics, nhận định: “Iran có phần bất ngờ về mức độ thành công của chiến lược liên quan Hormuz, về việc họ có thể khống chế nền kinh tế toàn cầu với chi phí thấp và tương đối dễ dàng. Một trong những bài học rút ra từ cuộc chiến là họ đã phát hiện ra đòn bẩy mới này và nhiều khả năng sẽ tiếp tục sử dụng trong tương lai. Tôi cho rằng việc kiếm tiền từ eo biển đó là một phần của quá trình nhận ra họ có đòn bẩy này”.
Mỹ nhận thức rõ rủi ro đó. Ngày 27/3, Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio cảnh báo rằng một trong những thách thức ngay sau chiến tranh sẽ là nỗ lực của Iran nhằm thiết lập hệ thống thu phí tại Hormuz. Ông Rubio nói sau cuộc họp G7 tại Pháp: “Không chỉ là bất hợp pháp, điều này còn không thể chấp nhận, nguy hiểm đối với thế giới và điều quan trọng là thế giới cần có kế hoạch để đối phó”. Các ngoại trưởng trong nhóm G7 nhấn mạnh cần phải khôi phục tự do hàng hải an toàn và không thu phí.
Trong dấu hiệu cho thấy tầm quan trọng chiến lược ngày càng tăng của eo biển Hormuz, trong thông điệp đầu tiên, Lãnh tụ Tối cao Iran Mojtaba Khamenei đã cho rằng cần tiếp tục sử dụng đòn bẩy từ việc phong tỏa tuyến đường thủy này.
Trong các vòng đàm phán trước đây với Mỹ, Iran muốn được dỡ bỏ trừng phạt và công nhận quyền phát triển công nghệ hạt nhân vì mục đích hòa bình, nhưng không đề cập đến việc kiểm soát eo biển Hormuz.
Hiện nay, Iran phát tín hiệu rằng đòn bẩy này có thể được thể chế hóa. Các nhà lập pháp Iran đang xem xét một dự luật yêu cầu các quốc gia sử dụng eo biển Hormuz để vận chuyển nhiên liệu và hàng hóa phải trả phí, trong khi một cố vấn của lãnh đạo tối cao Iran đã đề cập đến chế độ mới cho eo biển Hormuz sau chiến tranh. Hệ thống này sẽ cho phép Iran áp đặt hạn chế hàng hải đối với các đối thủ và về thực chất gắn quyền tiếp cận một trong những tuyến vận tải quan trọng nhất thế giới với các tranh chấp địa chính trị của mình.
Ông James Kraska, Giáo sư luật hàng hải quốc tế tại Trường Chiến tranh Hải quân Mỹ, nói: “Việc áp đặt phí quá cảnh là vi phạm các quy định về quyền quá cảnh”. Ông cho biết không có cơ sở pháp lý theo luật quốc tế để một quốc gia ven biển thu phí tại một eo biển quốc tế như Hormuz.
Ông nói: “Eo biển Hormuz là eo biển được sử dụng cho hàng hải quốc tế, có vùng biển lãnh hải chồng lấn của Iran và Oman… Trong vùng biển này, luật của Iran và Oman được áp dụng. Tuy nhiên, do đây là eo biển quốc tế nên quyền quá cảnh được áp dụng cho tất cả các quốc gia, cho phép đi lại không bị cản trở trên mặt nước, trên không và dưới nước”.
Các quy định này được nêu trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Dù Iran và Mỹ đều không phải là thành viên công ước, nhưng ông Kraska cho rằng nhiều nguyên tắc cốt lõi vẫn có hiệu lực vì được thừa nhận rộng rãi như luật tập quán quốc tế. Tuy nhiên, ông nói thêm Iran vẫn có thể củng cố lập luận của mình vì không tham gia UNCLOS.
Có rất ít tiền lệ về việc một quốc gia thành công trong việc thu phí qua một eo biển quốc tế. Vào thế kỷ 19, Đan Mạch từng áp dụng phí quá cảnh qua các eo biển của nước này, nhưng sau khi nhiều quốc gia phản đối, nước này đã đồng ý với Công ước Copenhagen năm 1857, chấm dứt thu phí vĩnh viễn.
Cạnh tranh với kênh đào Suez
Tàu chở dầu di chuyển qua eo biển Hormuz. Ảnh: Reuters/TTXVN
Tuy nhiên, điều đó không ngăn Iran tìm hiểu mô hình hệ thống này có thể vận hành ra sao hoặc mang lại lợi nhuận như thế nào.
Các chuyên gia đặt câu hỏi liệu Iran có thể thiết lập hệ thống thu phí được quốc tế chấp nhận hay không, nhưng nếu thành công, doanh thu có thể tương đương với kênh đào Suez của Ai Cập.
Thông thường, khoảng 20 triệu thùng dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ đi qua eo biển Hormuz mỗi ngày, tương đương khoảng 10 tàu chở dầu cỡ lớn (VLCC). Với mức phí 2 triệu USD mỗi tàu, con số này tương đương khoảng 20 triệu USD mỗi ngày, tức khoảng 600 triệu USD mỗi tháng chỉ từ dầu.
Nếu tính cả LNG, con số này có thể vượt 800 triệu USD mỗi tháng, tương đương khoảng 15%-20% doanh thu xuất khẩu dầu hàng tháng của Iran trong năm 2024.
Để so sánh, Ai Cập thu được từ 700 đến 800 triệu USD mỗi tháng từ kênh đào Suez trong một năm bình thường, dù doanh thu đã giảm mạnh trong năm qua do gián đoạn tại Biển Đỏ.
Việc kiếm tiền từ Hormuz cũng có thể xuất phát từ áp lực kinh tế của Iran. Bà Esfandiary nói Tehran coi việc thu phí quá cảnh là cách bù đắp một phần dưới các lệnh trừng phạt, coi đây là cơ chế tương đối dễ và chi phí thấp để bù đắp việc bị hạn chế tiếp cận thị trường toàn cầu. Iran là một trong những quốc gia chịu nhiều lệnh trừng phạt nhất thế giới, chỉ đứng sau Nga.
Iran nhiều lần khẳng định eo biển Hormuz vẫn mở nhưng không vô điều kiện. Các quan chức cho biết các tàu không thù địch có thể đi qua nếu phối hợp với cơ quan chức năng Iran. Theo Reuters, Bộ Ngoại giao nước này đã truyền đạt quan điểm đó trong thư gửi Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và Tổ chức Hàng hải Quốc tế.
Đồng thời, Iran dường như đang thử nghiệm cách vận hành hệ thống kiểm soát đi lại. Dữ liệu theo dõi tàu cho thấy một số tàu chở dầu đi theo tuyến gần bờ biển Iran hơn, cùng các thông tin cho rằng một số đơn vị vận hành có thể đã trả phí để được đi qua an toàn.
Chưa có quốc gia, nhà nhập khẩu hay đơn vị vận hành tàu nào công khai thừa nhận đã trả phí và các chi tiết của các thỏa thuận vẫn chưa rõ ràng. Tuy nhiên, công ty tình báo hàng hải Lloyd’s List cho biết hơn 20 tàu đã sử dụng hành lang mới qua eo biển Hormuz trong đó ít nhất hai tàu được cho là đã trả phí khoảng 2 triệu USD.
Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran cũng đã thiết lập hệ thống đăng ký cho các tàu được phê duyệt, trong khi một số chính phủ đang làm việc trực tiếp với Iran để đảm bảo quyền quá cảnh cho các tàu chở dầu của họ.
Ông Richard Meade, Tổng biên tập Lloyd’s List, bình luận: “Điều này đang xảy ra và tôi cho rằng sẽ xảy ra thường xuyên hơn nếu không có tiến triển trong đàm phán. Nhưng tại thời điểm hiện tại, ngành vận tải biển gần như tê liệt”.
Thùy Dương/Báo Tin tức và Dân tộc