Theo kênh CNN, gần 40 năm trước, tàu chiến Mỹ cũng đối mặt với lực lượng hải quân của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC).
Chiến tranh Iran - Iraq
Tàu chở dầu Adriadne sau khi bị Iran tấn công lần thứ hai trong cùng một ngày vào ngày 15/12/1987 ngoài khơi bờ biển Dubai. Ảnh: Getty Images
Mầm mống của cuộc chiến tàu chở dầu xuất hiện vào năm 1980. Trong bối cảnh lo ngại về chính quyền Iran do ông Ayatollah Ruhollah Khomeini lãnh đạo, lãnh đạo Iraq khi đó là ông Saddam Hussein đã phát động tấn công quốc gia láng giềng phía Đông này.
Sau những diễn biến giằng co của cả hai bên vào đầu thập niên 1980, tình hình đến năm 1984 đã trở thành một cuộc chiến tiêu hao bế tắc. Khi đó, ông Hussein quyết định thay đổi chiến thuật và tấn công các tàu chở dầu Iran để làm tổn hại nền kinh tế Iran và hy vọng các cường quốc thế giới can thiệp bảo vệ quyền tiếp cận dầu mỏ.
Iraq dùng máy bay trang bị tên lửa tấn công cơ sở hạ tầng dầu mỏ Iran trên đảo Kharg (cùng nơi Mỹ đã ném bom các cơ sở quân sự trên đảo này trong những ngày gần đây). Iran đáp trả bằng cách tấn công các tàu thương mại trung lập vận chuyển hàng tiếp tế và vũ khí cho Iraq, phần lớn qua Kuwait ở phía bắc Vịnh Ba Tư.
Sử gia Samuel Cox viết trong một bài lịch sử năm 2019: “Sau đó Iraq bắt đầu tấn công các tàu đến và rời đảo Kharg. Cuộc chiến tàu chở dầu bắt đầu”.
Mỹ tham gia
Các vụ tấn công tàu của cả hai bên tăng nhanh trong hai năm tiếp theo. Sau thời gian mệt mỏi khi thấy tàu bị vướng thủy lôi, vào tháng 11/1986, Kuwait đã nhờ nước ngoài giúp bảo vệ.
Liên Xô là bên giúp đầu tiên, hộ tống các tàu chở dầu qua vùng Vịnh.
Mỹ, không muốn mất ảnh hưởng trước Liên Xô, đã lập kế hoạch đổi cờ các tàu Kuwait thành tàu Mỹ, để có thể nhận sự bảo vệ của hải quân Mỹ theo luật liên bang.
Đến mùa hè năm 1987, tàu hải quân Mỹ và Tuần duyên Mỹ đã triển khai số lượng lớn vào vùng Vịnh để hộ tống các tàu chở dầu trước đây của Kuwait. Nhưng ngay cả trước khi các nhiệm vụ hộ tống bắt đầu, thủy thủ Mỹ đã gặp nguy hiểm.
Vụ tấn công USS Stark
Tàu USS Stark nghiêng sang mạn trái sau khi bị tên lửa Exocet của Iraq phóng trúng. Ảnh: Getty Images
Vào tối 17/5/1987, khu trục hạm mang tên lửa dẫn đường USS Stark đang tuần tra ở trung tâm Vịnh Ba Tư, ngay ngoài vùng cấm chiến tranh, thì một máy bay Iraq đã nhầm tàu chiến Mỹ với mục tiêu Iran và bắn hai tên lửa chống hạm Exocet.
Sử gia Cox cho biết: “Hai quả tên lửa đã giết chết 29 thủy thủ trên tàu USS Stark (trong khoảng 220 người) ngay lập tức và tám người nữa chết do vết thương và bỏng, còn 21 người bị thương”. Dù chịu thương vong và thủy thủ phải chiến đấu với đám cháy nóng tới gần 2.000 độ C, khắc phục tình trạng nghiêng nghiêm trọng có thể làm tàu lật, nhưng USS Stark vẫn xoay sở tìm cách cập cảng Bahrain.
Iraq xin lỗi, nhưng sự cố cho thấy trong chiến tranh, sai lầm có thể gây hậu quả thảm khốc. Trong cuộc chiến ở Trung Đông năm 2026 hiện nay, ba tiêm kích F-15 Mỹ bị lực lượng Kuwait bắn rơi trong một vụ nhầm lẫn tương tự, nhưng không có phi công Mỹ nào thiệt mạng.
Một vết nhơ của hải quân Mỹ
Chiến dịch hộ tống thực tế bắt đầu vào cuối tháng 7/1987, được hải quân Mỹ gọi là Earnest Will.
Ngày 22/7, hai tàu chở dầu được đổi cờ đã rời Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất hướng đến Kuwait dưới sự bảo vệ của năm tàu chiến Mỹ, một tàu khu trục, hai tàu hộ vệ và hai tàu tuần tra bờ biển.
Nhưng Iran có tình báo tốt về đoàn hộ tống và bố trí thủy lôi dọc một kênh quan trọng mà tàu chở dầu lớn Bridgeton phải đi qua.
Tàu chở dầu Bridgeton. Ảnh: Alamy
Ngày 24/7, tàu Bridgeton trúng một thủy lôi do Iran gài. Con tàu khổng lồ chịu sức công phá của thủy lôi, dù lỗ hổng lớn nhưng không ảnh hưởng đáng kể đến tàu chở dầu. Tuy nhiên, có một bức ảnh chụp lại cảnh đáng hổ thẹn nhất trong lịch sử hải quân Mỹ, cho thấy tàu Bridgeton đến Kuwait khi các tàu hộ tống Mỹ đi theo, dường như dùng tàu chở dầu lớn như ‘tàu rà thủy lôi’ để bảo vệ chính mình.
Sự cố là một nỗi xấu hổ lớn đối với hải quân Mỹ. Lầu Năm Góc đình chỉ hoạt động hộ tống cho đến khi có thêm phương tiện rà thủy lôi vào vùng Vịnh, nhưng thiếu trầm trọng và phải nhờ đồng minh cung cấp tàu quét thủy lôi.
Dù có trợ giúp từ đồng minh, nhưng khi nguồn lực Mỹ tập hợp nhanh chóng, thì tỷ lệ lực lượng, tức là tỷ lệ thủy lôi so với tàu rà thủy lôi vẫn vượt khả năng của Mỹ.
Thủy lôi tiếp tục là mối lo
Hiện nay chưa rõ mức độ Iran đặt thủy lôi ở vùng Vịnh. Tuần trước, quan chức Mỹ cho rằng Iran đã đặt thủy lôi tại eo biển Hormuz, nhưng chưa có thông tin nào về tàu bị hư hại.
Tàu rà thủy lôi Mỹ ở vùng Vịnh hiện rất ít. Bốn tàu rà thủy lôi chuyên dụng được bố trí ở đó đã bị loại biên năm 2025. Hai trong ba tàu chiến ven bờ dự kiến tiếp quản nhiệm vụ đã tới Malaysia tuần này để nhận tiếp tế.
Trong khi Tổng thống Trump kêu gọi đồng minh cử tàu rà thủy lôi giúp giữ mở eo biển Hormuz, nhưng chưa có nước nào cung cấp. Trong một tuyên bố chung ngày 19/3, Anh, Pháp, Đức, Italy, Hà Lan, Nhật và Canada cam kết đóng góp nỗ lực thích hợp để đảm bảo việc đi lại an toàn qua eo biển Hormuz, nhưng không nêu chi tiết.
Trong cuộc chiến tàu chở dầu, Bỉ, Pháp, Italy, Hà Lan và Anh đáp lời Mỹ, tham gia hộ tống và rà thủy lôi. Nhưng khi giao chiến với Iran, chỉ có lực lượng Mỹ.
Theo ông Carl Schuster, cựu Giám đốc Trung tâm Tình báo Liên hợp của Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương Mỹ, nguy cơ của thủy lôi vẫn hạn chế khả năng hoạt động của hải quân Mỹ ở vùng Vịnh. Thủy lôi gây tác động tâm lý cũng như tác động hoạt động đối với các chiến dịch hàng hải.
Nỗi sợ thủy lôi hạn chế tàu chiến Mỹ hoạt động ở vùng Vịnh, có thể giới hạn tầm bắn và hiệu quả của các cuộc không kích và tên lửa nhằm vào Iran.
Tàu chiến Mỹ gần bị gãy đôi
Sau vụ tàu Bridgeton trúng thủy lôi, 24 lần hộ tống tiếp theo không gặp sự cố. Nhưng tàu Mỹ vừa hoàn thành nhiệm vụ hộ tống thứ 25 là USS Samuel B. Roberts lại gặp xui xẻo vào ngày 14/4/1988.
Khi chuẩn bị tiếp tế trước nhiệm vụ hộ tống tiếp theo, tàu này đi vào khu vực thủy lôi Iran đặt từ đêm trước. Sau khi quan sát viên xác định tàu USS Samuel B. Roberts đang trong khu vực thủy lôi, thuyền trưởng thấy cách duy nhất là quay lại.
Nhưng cách này cũng không thành công. Tàu trúng thủy lôi. Ước tính hơn 220kg chất nổ làm gãy sống tàu và tạo lỗ 4,5 mét trên thân. Điều duy nhất giữ tàu còn nguyên là sàn chính.
Thủy thủ cứu tàu bằng cách dùng cáp thép nặng buộc các phần bị nứt của siêu cấu trúc. Chỉ có 10 người bị thương nhờ thuyền trưởng ra lệnh đưa phần lớn thủy thủ lên boong trước khi trúng thủy lôi.
Vụ tàu Roberts trúng thủy lôi lại đưa vấn đề thiếu tàu quét thủy lôi của Mỹ ra ánh sáng. Vụ này khiến Mỹ tung đòn trả đũa chưa từng có trong lịch sử hải quân Mỹ. Theo một sử gia hải quân, đây là một trong những trận đánh quan trọng nhất.
Chiến dịch Praying Mantis
Máy bay A-7E "Corsair II" trên boong máy bay của tàu sân bay USS Enterprise chuẩn bị cất cánh trong chiến dịch Praying Mantis ở Vịnh Ba Tư. Ảnh: Alamy
Bốn ngày sau khi thủy lôi Iran gần như làm tàu Roberts gãy đôi, Mỹ phát động chiến dịch Praying Mantis, tấn công các giàn dầu Iran ở vùng Vịnh.
Một trong số đó bị nhóm ba tàu Mỹ tấn công, trong đó có tàu USS Simpson. Trong trận chiến này, một tàu tuần tra Iran bắn tên lửa vào tàu USS Simpson.
Tàu USS Simpson đáp trả bằng bốn tên lửa, vô hiệu hóa tàu Iran và tàu này bị hỏa lực từ hạm đội Mỹ kết liễu.
Đây là trận hải chiến tên lửa đối tên lửa đầu tiên trong lịch sử Hải quân Mỹ.
Cùng ngày còn có các trận đánh khác giữa Mỹ và Iran, trong đó máy bay tấn công A-6 Mỹ và một khu trục hạm Mỹ bắn tên lửa đánh chìm một tàu hộ vệ của Iran.
Trong cuốn sách năm 2005 “Decision at Sea” (Quyết định trên biển), sử gia hải quân Craig Symonds gọi Praying Mantis là một trong năm trận hải chiến quan trọng nhất của Mỹ.
Theo ông Symonds, chiến dịch Praying Mantis đã xác lập Mỹ là siêu cường không thể tranh cãi trên thế giới, có khả năng ra quyết định chiến trường theo thời gian thực từ hàng nghìn km, khả năng bắn tên lửa chính xác trúng tàu mà họ chỉ có thể quan sát điện tử và khả năng tích hợp tất cả các quân chủng thành một cỗ máy thống nhất. Trận chiến cho thấy quân đội Mỹ sở hữu công nghệ để trở thành không chỉ là cường quốc quân sự lớn nhất trên Trái đất, mà còn là cường quốc quân sự lớn nhất từng có.
Đó là câu mà Tổng thống Trump thường dùng khi nói về chiến tranh hiện nay ở vùng Vịnh. Nhưng các nhà phân tích và chuyên gia lưu ý bối cảnh đã thay đổi vào năm 2026.
Công nghệ tiến bộ. Kho vũ khí Iran tăng. Thiết bị không người lái giá rẻ triển khai trên biển và trên không mở rộng ma trận mối đe dọa. Ngoài ra, Iran không bị phân tâm bởi chiến tranh biên giới với Iraq lần này.
Hải quân Mỹ có rất ít khả năng rà thủy lôi. Đây luôn là hoạt động bị cắt giảm đầu tiên trong ngân sách vì truyền thống là Mỹ dựa vào đồng minh làm nhiệm vụ đó.
Có người đặt câu hỏi liệu Mỹ đã sẵn sàng đối phó với việc Iran đóng eo biển Hormuz một lần nữa hay chưa và tại sao hoạt động hộ tống tàu chở dầu không được lên kế hoạch từ đầu cuộc chiến.
Cố vấn hàng hải Frank Coles, cựu Giám đốc điều hành Wallem Group, bình luận: “Lịch sử lặp lại. Ai nhớ chiến tranh Iran - Iraq đều biết lúc đó cần hộ tống. Thật đáng thất vọng khi điều đó không được cân nhắc bây giờ”.
Thùy Dương/Báo Tin tức và Dân tộc