Điều đáng lưu ý là ung thư vú khi được phát hiện kịp thời hoàn toàn có thể kiểm soát hiệu quả, thậm chí chữa khỏi. Chính vì vậy, trách nhiệm của ngành y tế không chỉ dừng lại ở điều trị mà cần chủ động đi trước một bước: đẩy mạnh sàng lọc, phát hiện sớm và can thiệp kịp thời.
Các chuyên gia đã đưa ra thông tin này tại hội thảo khoa học với chủ đề “Sàng lọc và phát hiện sớm ung thư vú theo chuẩn quốc tế” diễn ra chiều nay - 29/3 tại Bệnh viện Vĩnh Phúc VPI – CTCP Bệnh viện Quốc tế Vĩnh Phúc. Hội thảo có sự hiện diện của ThS.BS Nguyễn Đắc Ca - Phó Giám đốc sở Y Tế Phú Thọ, cùng gần 100 chuyên gia, bác sĩ đến từ các bệnh viện trung ương, bệnh viện của tỉnh Phú Thọ và các khu vực lân cận cùng trao đổi xoay quanh các nội dung từ mô hình sàng lọc, chẩn đoán hình ảnh đến các phương pháp can thiệp và điều trị hiện đại.
BSCK II Lưu Hồng Nhung, Phó Chủ tịch Chi hội Chẩn đoán hình ảnh vú, Hội Điện quang và Y học Hạt nhân Việt Nam cho biết, sàng lọc có vai trò đặc biệt quan trọng khi giúp giảm tới 41% nguy cơ tử vong và 20% số ca phát hiện ở giai đoạn muộn.
Sàng lọc sớm: "chìa khóa vàng" giúp giảm tử vong của ung thư vú
Đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ các mô hình sàng lọc ung thư vú tại các nước phát triển, BSCK II Lưu Hồng Nhung, Phó Chủ tịch Chi hội Chẩn đoán hình ảnh vú, Hội Điện quang và Y học Hạt nhân Việt Nam cho biết, sàng lọc có vai trò đặc biệt quan trọng khi giúp giảm tới 41% nguy cơ tử vong và 20% số ca phát hiện ở giai đoạn muộn.
Theo BS Nhung, chụp nhũ ảnh hiện là tiêu chuẩn nền tảng trong sàng lọc ung thư vú trên thế giới. Tuy nhiên, để triển khai rộng rãi theo mô hình của các quốc gia phát triển, Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức lớn về số lượng trang thiết bị, nguồn nhân lực, chi phí đầu tư cũng như năng lực vận hành hệ thống.
BS Nhung cho rằng, trong bối cảnh đó, Việt Nam cần lựa chọn hướng đi phù hợp, khả thi và bền vững. Trước mắt, có thể thí điểm triển khai sàng lọc có tổ chức tại các khu vực đủ điều kiện, ưu tiên nhóm nguy cơ cao và từng bước mở rộng phạm vi. Đồng thời, cần chuẩn hóa hệ thống chuyên môn, tăng cường kiểm soát chất lượng; gắn hoạt động sàng lọc với quy trình khám, chẩn đoán và điều trị nhanh nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời.
BSCK II Trương Thị Thanh, Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh và Can thiệp điện quang, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội tham luận.
Cập nhật thêm, BSCK II Trương Thị Thanh, Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh và Can thiệp điện quang, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho biết có các phương tiện chẩn đoán hình ảnh hiện đại như nhũ ảnh kỹ thuật số, siêu âm chuyên sâu và cộng hưởng từ (MRI).
"Đây là những công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao độ chính xác, phát hiện sớm các tổn thương"- BS Thanh nói và thông tin thêm: Sự ra đời của X-quang số hóa cắt lớp tuyến vú đã góp phần nâng cao độ nhạy thêm 20–40%, đặc biệt trong mô vú dày; đồng thời giảm 15–30% tỷ lệ gọi lại không cần thiết và cải thiện khả năng phát hiện các tổn thương dạng khối cũng như vi vôi hóa rải rác.
Xu hướng hiện nay là ứng dụng các công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả chẩn đoán, trong đó có trí tuệ nhân tạo (AI) trong siêu âm vú 3D, siêu âm đàn hồi, kết hợp siêu âm B-mode với cộng hưởng từ tuyến vú (MRI), đặc biệt là MRI vú rút gọn (AB-MRI), góp phần tăng độ chính xác và hỗ trợ quyết định lâm sàng.
Điều trị toàn diện và cá thể hóa: Xu hướng tất yếu
Dưới góc độ điều trị, trong phần trình bày của TS.BS Lê Duy Chung – Trưởng đơn vị Chẩn đoán hình ảnh Vú, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã tập trung vào các kỹ thuật can thiệp mới, mang tính ứng dụng cao trong thực hành lâm sàng.
TS.BS Hoàng Anh Dũng, Phó Trưởng Khoa Ngoại Vú, Bệnh viện K nhấn mạnh: nhấn mạnh vai trò phối hợp liên chuyên khoa, từ phát hiện sớm đến điều trị toàn diện, nhằm tối ưu hiệu quả và cá thể hóa phác đồ cho từng bệnh nhân.
TS.BS Hoàng Anh Dũng, Phó Trưởng Khoa Ngoại Vú, Bệnh viện K cho hay, ung thư vú là một bệnh lý không đồng nhất, đòi hỏi cách tiếp cận điều trị toàn diện và cá thể hóa cho từng người bệnh. Theo đó, điều trị ung thư vú hiện nay được triển khai theo mô hình đa mô thức, với sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chuyên ngành như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị và các liệu pháp toàn thân.
TS Dũng nhấn mạnh thông tin, đáng chú ý, xu hướng điều trị đang mở rộng chỉ định các liệu pháp tân bổ trợ, đặc biệt đối với nhóm bệnh nhân nguy cơ cao, kể cả ở giai đoạn sớm.
"Việc lựa chọn phác đồ điều trị cần được cân nhắc trên nhiều yếu tố, bao gồm đặc điểm sinh học phân tử của khối u, các phương pháp điều trị nội khoa và xạ trị, nhằm tối ưu hiệu quả và mang lại kết quả tốt nhất cho người bệnh"- TS Dũng nói.
Tại Việt Nam, ung thư vú là ung thư có số ca mắc mới cao nhất trong năm 2022, với 24.563 ca (chiếm 13,6% tổng ca ung thư) và chiếm 8,3% tổng số tử vong do ung thư hàng năm. Tỷ lệ sống sót trên 5 năm ở bệnh nhân di căn chỉ khoảng 30%, trong khi tỷ lệ này ở bệnh nhân tái phát chỉ đạt 17%.
Phụ nữ trẻ thường biểu hiện ở giai đoạn tiến triển, tỷ lệ tái phát tại chỗ cao hơn và sống sót chung thấp hơn. Tuy nhiên, tỷ lệ phát hiện sớm (giai đoạn 0-I-II) đã cải thiện từ 52,4% (2008-2010) lên 76,6%.
Theo chuyên gia y tế việc chẩn đoán sớm giúp tỷ lệ người mắc ung thư vú sống thêm 5 năm đạt 90%, thậm chí ở nhóm trẻ tuổi, tỷ lệ sống thêm 10 năm vượt 80%.
Thái Bình