Gạo Thái Lan 'hụt hơi', Việt Nam bước vào 'vùng trống' thị phần

Gạo Thái Lan 'hụt hơi', Việt Nam bước vào 'vùng trống' thị phần
6 giờ trướcBài gốc
Thị trường gạo thế giới năm 2026 đang bước vào giai đoạn “chuyển pha” rõ nét. Sau chu kỳ tăng nóng năm 2023-2024 do đứt gãy nguồn cung và chính sách bảo hộ lương thực, bức tranh hiện nay là sự quay trở lại của nguồn cung dồi dào, tồn kho tăng cao và cạnh tranh giá ngày càng gay gắt. Tuy nhiên, nếu đặt trong tương quan khu vực và toàn cầu, đây không phải là tín hiệu tiêu cực đơn lẻ, mà là một phần của quá trình tái cân bằng thị trường, đồng thời mở ra cơ hội đáng kể cho những quốc gia có cấu trúc chi phí linh hoạt và khả năng thích ứng nhanh như Việt Nam.
PHILIPPINES “HÃM PHANH” NHẬP KHẨU
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) dự báo, trong hai tháng 3 và 4/2026, Philippines dự kiến hạn chế nhập khẩu gạo xuống khoảng 150.000 tấn/tháng, thấp hơn nhiều so với mức bình quân khoảng 400.000 tấn/tháng trước đó. Quyết định này nhằm bảo vệ nông dân trong nước khi Philippines bước vào cao điểm thu hoạch vụ chính, đồng thời nằm trong chiến lược điều hành tổng thể năm 2026 của quốc gia này, hướng tới cân bằng giữa tự cung và nhập khẩu.
Về mặt thời điểm, động thái “siết” nhập khẩu diễn ra đúng lúc vụ Đông Xuân 2025-2026 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam bước vào thu hoạch rộ, khiến lo ngại giá lúa gạo trong nước chịu áp lực giảm khi nguồn cung tăng trong khi đầu ra tạm thời bị thu hẹp. Tuy nhiên, các con số xuất khẩu đầu năm cho thấy bức tranh không bi quan như lo ngại ban đầu.
Tháng 1/2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 600-651 nghìn tấn gạo, kim ngạch dao động 309-370 triệu USD, tăng mạnh về lượng (12-22%) so với cùng kỳ năm trước. Philippines vẫn là thị trường chủ lực, nhập khẩu 331.770 tấn, chiếm hơn 50% tổng lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam trong tháng đầu năm, lần đầu tiên vượt mốc này. Điều đó cho thấy, dù có điều chỉnh chính sách ngắn hạn, Philippines vẫn chưa có khả năng giảm vai trò của gạo Việt Nam trong cơ cấu an ninh lương thực của mình.
Vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ: sự phụ thuộc lớn vào một thị trường khiến ngành gạo Việt Nam dễ bị tổn thương trước các quyết định hành chính. Nhưng mặt khác, chính áp lực này đang buộc doanh nghiệp và cơ quan quản lý phải đẩy nhanh tiến trình đa dạng hóa thị trường, điều mà nhiều năm qua vẫn được nhắc tới nhưng triển khai chưa đủ quyết liệt.
Trái với lo ngại về sự co hẹp đầu ra, số liệu cho thấy nhiều thị trường ngoài Philippines đang tăng nhập khẩu gạo Việt Nam. Năm 2025 và đầu 2026, Ghana và Bờ Biển Ngà ghi nhận mức tăng lần lượt 21,3% và 67,5%; Bangladesh tăng đột biến, gấp 125 lần so với năm trước. Trung Quốc, Malaysia và một số thị trường châu Phi tiếp tục duy trì vai trò khách hàng quan trọng.
Sự dịch chuyển này diễn ra trong bối cảnh giá gạo thế giới đã hạ nhiệt rõ rệt. Chỉ số Gạo Trắng Oryza (WRI) đầu tháng 2/2026 chỉ còn khoảng 401 USD/tấn, thấp hơn tới 85 USD/tấn so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số Giá Gạo Toàn cầu (FARPI) tháng 1/2026 của FAO đạt 102,8 điểm, dù tăng nhẹ so với tháng trước nhưng vẫn thấp hơn gần 10% so với cùng kỳ năm 2025. FAO dự báo sản lượng gạo toàn cầu niên vụ 2025/26 đạt 561,6 triệu tấn, tồn kho cuối kỳ tăng lên 217,7 triệu tấn.
Trong bối cảnh đó, lợi thế không còn thuộc về quốc gia có thương hiệu lâu đời nhất, mà thuộc về nước nào có khả năng cung ứng ổn định với mức giá hợp lý và linh hoạt về chủng loại. Đây chính là không gian mà gạo Việt Nam đang nổi lên.
GẠO THÁI LAN HỤT HƠI: KHOẢNG TRỐNG THỊ PHẦN XUẤT HIỆN
Trong khi Việt Nam duy trì đà xuất khẩu ổn định, gạo Thái Lan, đối thủ cạnh tranh trực tiếp ở phân khúc trung và cao cấp lại đang đối mặt với hàng loạt bất lợi mang tính cấu trúc. Hiệp hội Xuất khẩu Gạo Thái Lan dự báo tổng lượng gạo xuất khẩu năm 2026 chỉ đạt khoảng 7,03 triệu tấn, giảm 11% so với năm 2025 và là mức thấp nhất trong vòng 5 năm.
Tháng 1/2026, Thái Lan chỉ xuất khẩu khoảng 530.000 tấn gạo, giảm 17,5% so với cùng kỳ; kim ngạch giảm mạnh hơn, tới trên 30%. Nguyên nhân quan trọng nhất đến từ đồng baht mạnh, dao động quanh mức 31 baht/USD. Theo tính toán của Hiệp hội Xuất khẩu Gạo Thái Lan, cứ mỗi 1 baht tăng giá, giá gạo xuất khẩu của nước này tăng thêm 12-15 USD/tấn. So với cùng kỳ năm trước, giá gạo Thái Lan đã cao hơn khoảng 40 USD/tấn.
Hệ quả là gạo thơm Thái Lan hiện được chào bán quanh mức 1.200 USD/tấn, cao nhất thế giới, trong khi gạo basmati Ấn Độ khoảng 970 USD/tấn và các loại gạo tương đương từ Việt Nam, Campuchia chỉ 800 - 830 USD/tấn. Khoảng chênh lệch này trở thành rào cản lớn trong bối cảnh người mua ngày càng nhạy cảm với giá.
Không chỉ chịu áp lực tỷ giá, Thái Lan còn đối mặt với thuế nhập khẩu tạm thời của Mỹ theo Điều 122, có thể khiến xuất khẩu gạo sang thị trường này giảm 15-20%. Mỹ lại chính là thị trường tiêu thụ gạo thơm lớn nhất của Thái Lan, chiếm khoảng một nửa tổng lượng gạo thơm xuất khẩu. Cộng hưởng với tình trạng dư cung toàn cầu, những khó khăn này khiến khả năng Thái Lan giành lại đà tăng trưởng trong ngắn hạn là rất hạn chế.
Sự suy giảm của gạo Thái Lan không đồng nghĩa Việt Nam tự động hưởng lợi. Cơ hội chỉ thực sự trở thành lợi thế khi được chuyển hóa thành chiến lược rõ ràng. Trên thực tế, giá xuất khẩu bình quân của gạo Việt Nam trong tháng 1/2026 dao động khá rộng, từ khoảng 475 USD/tấn theo số liệu hải quan đến hơn 616 USD/tấn theo số liệu tổng hợp, phản ánh sự khác biệt lớn giữa các phân khúc.
Điều này cho thấy gạo Việt Nam đang đứng trước hai lựa chọn: tiếp tục cạnh tranh bằng giá ở phân khúc trung bình, hoặc tận dụng khoảng trống mà Thái Lan để lại để đẩy mạnh phân khúc chất lượng cao, nơi giá không phải là yếu tố duy nhất. Định hướng giảm dần sản lượng xuất khẩu, tăng chất lượng và giá trị gia tăng với mục tiêu khoảng 7 triệu tấn năm 2026 và giảm về 4 triệu tấn vào năm 2030 đang phản ánh lựa chọn thứ hai.
Trong ngắn hạn, thách thức lớn nhất vẫn là vụ Đông Xuân thu hoạch rộ và áp lực tài chính đối với doanh nghiệp thu mua. Việc linh hoạt tín dụng, khuyến khích tạm trữ lúa khô thay vì gạo, cùng với các cơ chế thu mua phù hợp hơn với thực tế sản xuất manh mún, sẽ quyết định khả năng “đỡ giá” cho nông dân và giữ nhịp xuất khẩu ổn định.
Nhưng về trung và dài hạn, bức tranh đang nghiêng về phía Việt Nam. Khi Thái Lan gặp khó về tỷ giá và chi phí, Ấn Độ đóng vai trò neo giá ở phân khúc thấp, thì không gian ở phân khúc trung, cao cấp, với yêu cầu chất lượng ổn định, truy xuất nguồn gốc và phát thải thấp, đang rộng mở. Nếu tận dụng tốt giai đoạn này để tái cấu trúc chuỗi giá trị, gạo Việt Nam không chỉ “thế chỗ” Thái Lan trong ngắn hạn, mà có thể từng bước tái định vị trên bản đồ gạo thế giới.
Năm 2026 vì thế không chỉ là một năm nhiều thách thức, mà còn là phép thử chiến lược. Kết quả không nằm ở việc xuất thêm vài trăm nghìn tấn, mà ở chỗ ngành gạo Việt Nam có chuyển được lợi thế chi phí hiện tại thành lợi thế giá trị bền vững hay không. Nếu làm được, khoảng trống mà Thái Lan để lại sẽ không chỉ là cơ hội nhất thời, mà là bước đệm cho một chu kỳ tăng trưởng mới.
Ngày 19/3/2026, Bộ Công Thương ban hành Chỉ thị số 08/CT-BCT về tăng cường thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu gạo trong tình hình mới. Chỉ thị được ban hành nhằm thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 21/CĐ-TTg về điều hành sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, đồng thời quán triệt nguyên tắc điều hành xuất khẩu gạo phải gắn chặt với ổn định thị trường trong nước, bảo đảm an ninh lương thực và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh theo hướng bền vững.
Chỉ thị 08/CT-BCT nhấn mạnh yêu cầu điều hành xuất khẩu gạo theo hướng chủ động, linh hoạt, bám sát diễn biến thị trường, đồng thời bảo đảm cân đối cung - cầu trong nước. Trọng tâm là nâng cao chất lượng, mở rộng thị trường, siết chặt kỷ cương trong kinh doanh và tăng cường năng lực thích ứng của doanh nghiệp trước những biến động của thương mại toàn cầu.
Hà Linh
Nguồn Thương Gia : https://thuonggiaonline.vn/gao-thai-lan-hut-hoi-viet-nam-buoc-vao-vung-trong-thi-phan-post568982.html