Những nhân chứng của lịch sử
Đã nghe nhiều, đọc nhiều, xem nhiều phim, ảnh... nhưng tôi không khỏi xúc động khi được gặp “bằng xương bằng thịt” những nhân chứng của lịch sử, ai cũng ngưỡng mộ. Đó là cựu chiến binh Vũ Đăng Toàn, nguyên Trung úy (sau là Đại úy), Chính trị viên Đại đội, chỉ huy xe tăng số hiệu 390 và cựu chiến binh Nguyễn Văn Tập, nguyên Trung sĩ (sau là Thiếu úy), lái xe. Đây là 2 người lính trong kíp xe tăng 390 húc đổ cánh cổng chính Dinh Độc lập trưa ngày 30/4/1975 lịch sử, đánh dấu thời khắc chiến dịch Hồ Chí Minh giành toàn thắng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lâu dài, gian khổ và ác liệt nhất trong lịch sử dân tộc ta.
Tác giả (bìa phải) cùng Trưởng xe tăng 390 Vũ Đăng Toàn (thứ hai phải sang) và lái xe tăng 390 Nguyễn Văn Tập (thứ ba trái sang) tại Lễ trao tặng Kỷ niệm chương biên giới
Họ là 2 trong số những người lính đi vào huyền thoại cùng những chiếc xe tăng 390, 843, 846, 380, 381, 382 và 389 của Lữ đoàn Tăng - Thiết giáp 203, Quân đoàn 2, đột kích, thọc sâu vào sào huyệt cuối cùng của chế độ Sài Gòn trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy của quân và dân ta mùa Xuân năm 1975.
Tôi may mắn được gặp hai cựu chiến binh tại sự kiện “Lễ trao tặng Kỷ niệm chương biên giới Quân khu 1 và Quân khu 2” do Câu lạc bộ “Biên giới trong trái tim người lính” tổ chức tại Hà Nội. Các anh là những đồng đội thế hệ đàn anh, tuy tuổi cao, nhưng vẫn mạnh khỏe, trí nhớ minh mẫn, tác phong thân mật, bình dị. Hơn 400 cựu chiến binh chúng tôi tại sự kiện đa số là những người đi sau, chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên chiến trường Campuchia và biên giới phía Bắc Tổ quốc giai đoạn 1979 - 1989, vui mừng, chăm chú nghe Đại úy Vũ Đăng Toàn (78 tuổi) và Thiếu úy Nguyễn Văn Tập (74 tuổi) trực tiếp kể lại một thời chiến đấu oanh liệt khi tiến vào Dinh Độc lập trưa ngày 30/4/1975.
Mệnh lệnh đanh thép và cú nhấn ga lịch sử
Đại úy CCB Vũ Đăng Toàn kể lại: Kíp xe của tôi lúc đó có tôi là Trung úy, Chính trị viên Đại đội 4 kiêm Trưởng xe; Trung sĩ Ngô Sĩ Nguyên, pháo thủ số 1; Thiếu úy Lê Văn Phượng, Đại đội phó kỹ thuật, pháo thủ số 2 và Nguyễn Văn Tập, Trung sĩ, lái xe.
Trải qua nhiều trận đánh, từ chiến trường Quảng Trị đến chiến dịch giải phóng Huế, Đà Nẵng, đánh chiếm căn cứ Nước Trong ở Đồng Nai... ký ức khốc liệt trước giờ chiến thắng còn đọng mãi trong tôi là trận đánh ở đầu cầu Sài Gòn để mở đường tiến vào nội đô sáng 30/4/1975. Nhiều xe tăng M-48 và xe bọc thép M-113 địch co cụm, án ngữ triền dốc và bờ bên kia cầu, điên cuồng chống trả dữ dội; rồi máy bay ném bom, pháo từ tàu chiến dưới sông Sài Gòn bắn lên. Địch quyết phá sập cầu, chặn bước tiến của quân ta. Nhờ lưới lửa phòng không của ta bắn rát nên máy bay địch buộc phải vọt lên cao, không thể đánh bom trúng cầu. Đại úy Ngô Văn Nhỡ, Tiểu đoàn trưởng và một số chiến sĩ hy sinh. Xe tăng đi đầu trúng đạn địch bị cháy. Chúng tôi chưa tiến được qua cầu.
Không thể chần chừ, tôi cùng Đại đội trưởng Bùi Quang Thận và Đại đội phó Lê Văn Phượng hội ý Ban chỉ huy chớp nhoáng, hạ quyết tâm, giao Đại đội trưởng chỉ huy, tận dụng thời cơ, dù có hy sinh cũng phải vượt cầu bằng được để tiến đánh mục tiêu cuối cùng. Phương án tác chiến được triển khai thành 2 tốp xe tăng. Tốp 1 gồm 3 xe tăng, đi đầu là xe 390 do tôi chỉ huy, vừa hành tiến vừa bắn. Tốp 2 gồm 5 xe tăng do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy, tập trung hỏa lực bắn yểm trợ, chế áp các ổ hỏa lực của địch, xác định nếu 3 chiếc tăng tốp 1 hy sinh thì 5 chiếc tốp 2 xông lên. Sau khi 3 xe tăng tốp 1 bắn cháy chiếc M-48 trên cầu và vượt cầu thành công dưới làn đạn chống tăng M-72 của địch bắn trượt, địch thấy 3 xe tăng ta cứ băng băng lao tới; tiếp theo là 5 xe tăng cũng vượt qua cầu thì hoảng loạn tháo chạy, bỏ lại xe tăng M-48, xe bọc thép M-113 còn nổ máy.
Thiếu úy Nguyễn Văn Tập bồi hồi nhớ lại: sau khi vượt cầu đến ngã Tư Hàng Xanh rẽ trái thì anh phát hiện có xe tăng địch, liền báo cho Trưởng xe qua bộ đàm. Anh Toàn chỉ thị diệt mục tiêu, pháo thủ số 1 Ngô Sĩ Nguyên khai hỏa mấy phát chính xác tiêu diệt gọn 2 chiếc M-113. Vô cùng phấn khích, anh nhấn ga, nghiến những vòng xích sắt sắc lạnh đầy uy lực trên đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai).
Tác giả (giữa) gặp gỡ Đại úy, Trưởng xe tăng 390 Vũ Đăng Toàn (bên trái) và Thiếu úy, lái xe tăng 390 Nguyễn Văn Tập (bên phải) tại Hà Nội tháng 10/2025
Cứ thế tiến, chúng tôi quên là đi qua 7 ngã tư thì rẽ trái như đã được quán triệt từ trước nên phải dừng lại hỏi đường. Nhờ chỉ dẫn của người dân, tôi lùi xe chạy vào đường Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) một quãng thấy xe tăng 843 do Trung úy Bùi Quang Thận, Đại đội trưởng chỉ huy chạy trên Đại lộ Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn) cũng vừa đến, áp sát cổng phụ bên trái Dinh Độc lập rồi dừng lại. Tôi vừa kéo cần lái bên phải đạp ga quay xe 90 độ, vừa hỏi Trưởng xe qua bộ đàm: “Thế nào anh Toàn?”. Anh Toàn ra lệnh ngắn gọn: “Tông thẳng vào”. Tôi cảm nhận đây là thời khắc lịch sử, lập tức nhấn ga, chiếc xe tăng 390 gầm rú vọt lên húc đổ cánh cổng chính Dinh Độc lập, lao thẳng vào bên trong sân Dinh.
Đó là mệnh lệnh đanh thép, quyết đoán của người chỉ huy và cú nhấn ga lịch sử của chiến sĩ lái xe tăng đã dồn nén suốt 20 năm dành cho ngày toàn thắng.
Lá cờ khát vọng hòa bình của 3 miền Bắc - Trung - Nam
Được biết, xe tăng 843 mắc kẹt ở cổng phụ sau đó lùi lại, tiến vào cổng chính theo sau xe 390. Chính trị viên đại đội Vũ Đăng Toàn cầm cờ định nhảy xuống xe, nhưng thấy Đại đội trưởng Bùi Quang Thận đã cầm cờ xuống xe 843 chạy đằng sau, nên anh để cờ lại và chụp khẩu tiểu liên AK47 lên đạn sẵn (vì cảm thấy chỉ mang súng ngắn chưa yên tâm nếu địch chống cự), cùng Đại đội trưởng tiến vào bên trong Dinh. Chính trị viên Vũ Đăng Toàn và Đại đội trưởng Bùi Quang Thận là những chiến sĩ quân Giải phóng đầu tiên bất chấp có thể hy sinh trong giây phút cuối cùng của chiến dịch, xông thẳng vào sào huyệt của địch, bắt sống Tổng thống Dương Văn Minh cùng toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn, cắm ngọn cờ chiến thắng lên nóc Dinh Độc lập.
CCB Vũ Đăng Toàn với mái tóc đã bạc trắng, khuôn mặt còn hằn dấu gian lao như bao cựu chiến binh khác trở về từ chiến trường, tự hào nhớ lại: Vào đến Dinh, chúng tôi gặp một sĩ quan ngụy ra chào lịch sự, nói: “Thưa 2 ông, tôi là Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá cho Đại tướng Tổng thống Dương Văn Minh, hiện nay Tổng thống vẫn còn, mời 2 ông lên làm việc”.
Tôi ra lệnh cử người dẫn anh Thận lên lầu cắm cờ, ông ta đang biện bạch mới tiếp quản 2 ngày nay nên chưa biết đường lên cột cờ thì ông Nguyễn Hữu Thái và ông Huỳnh Văn Tòng (cánh tay đeo băng xanh đỏ - dấu hiệu lực lượng quần chúng nổi dậy) xuất hiện đúng lúc, tình nguyện đưa anh Thận đến thang máy lên cắm cờ. Tôi ở lại cầm súng AK lệnh cho tất cả nội các chính quyền Sài Gòn khoảng hơn 60 người vào hết trong phòng Khánh tiết, không được đi lại lộn xộn, cho đến khi Trung tá Bùi Văn Tùng, Chính ủy Lữ đoàn 203 của chúng tôi đến làm việc.
Lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Độc lập lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975 trước sự chứng kiến của 3 người con Lạc, cháu Hồng ở 3 miền Bắc - Trung -Nam như một sự sắp đặt của lịch sử: Trung úy Bùi Quang Thận quê ở miền Bắc, ông Nguyễn Hữu Thái quê ở miền Trung và ông Huỳnh Văn Tòng quê ở miền Nam. Khát vọng hòa bình, thống nhất non sông của dân tộc Việt Nam đã thành hiện thực.
Nguyễn Vân Hậu