“Loạn” giá dầu thô toàn cầu
Từ đầu tuần qua, thị trường năng lượng toàn cầu chứng kiến những biến động mạnh chưa từng có khi giá dầu thô hợp đồng tương lai (dầu Brent, kỳ hạn giao tháng 4/2026) tăng vọt lên mức gần 120 USD/thùng tại phiên 9/3, mức cao nhất kể từ khi xung đột Ukraine bùng phát, sau đó quay đầu giảm mạnh, sáng 11/3 (giờ Hà Nội) giao dịch ở mức hơn 85 USD/thùng.
Giá dầu Brent biến động mạnh trong một tuần qua, hiện tiếp tục áp sát mốc 100 USD/thùng. Ảnh: OilPrice
Tuy nhiên, đến phiên giao dịch sáng nay (12/3, giờ Hà Nội), giá dầu quốc tế trở lại đà tăng và một lần nữa áp sát mốc 100 USD/thùng và được dự báo sẽ tiếp tục biến động.
Sự dao động bất thường này xuất phát trực tiếp từ kỳ vọng và lo ngại đan xen từ cuộc xung đột Trung Đông bùng phát sau chiến dịch quân sự của Mỹ, Israel nhắm vào Iran.
Theo giới quan sát, có hai nguyên nhân chính khiến xung đột Trung Đông tác động đến giá dầu toàn cầu, một là eo biển Hormuz, nơi trung chuyển khoảng 1/5 lượng dầu mỏ và khí đốt của thế giới, gần như bị đóng cửa do các biện pháp phong tỏa của Iran, và hai là sản lượng khai thác dầu mỏ ở vùng Vịnh sụt giảm do hạ tầng bị hư hại.
Giá dầu đã tăng mạnh trong phiên 9/3 sau khi Iran phong tỏa toàn diện eo biển Hormuz và tăng cường các cuộc tấn công vào mục tiêu có liên quan đến Mỹ ở các nước láng giềng.Một ngày sau, giá dầu hạ nhiệt chủ yếu nhờ tín hiệu tích cực của Tổng thống Mỹ Donald Trump, trong đó dự đoán cuộc chiến với Iran sẽ sớm kết thúc, dẫn đến việc eo biển Hormuz lưu thông trở lại. “Tôi đã có kế hoạch cho mọi thứ”, ông nói với New York Post.
Khói đen dày đặc bốc lên ở Tehran sau khi một cơ sở dầu mỏ trúng hỏa lực nghi của Israel. Ảnh: Reuters
Sáng 12/3, giá dầu bật tăng do những diễn biến căng thẳng ở eo biển Hormuz, tình hình bất thường tại một số cảng ở Trung Đông và triển vọng chấm dứt xung đột chưa rõ ràng.
Do diễn biến bất thường của thị trường năng lượng, hầu hết các quốc gia và tổ chức quốc tế lớn đã can thiệp nhằm bình ổn giá. Mới đây, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) đồng ý xuất 400 triệu thùng dầu từ kho dự trữ khẩn cấp nhằm ứng phó với gián đoạn nguồn cung.
Dù chưa công bố thời điểm cụ thể lượng dầu trên sẽ được đưa ra thị trường, nhưng IEA khẳng định việc xuất kho dự trữ sẽ được triển khai theo khung thời gian phù hợp với điều kiện của từng quốc gia trong tổng số 32 nước thành viên.
Từ phía các nước xuất khẩu ở Trung Đông, họ đã rất nỗ lực mở các tuyến đường khẩn cấp mới để cung cấp dầu ra thị trường. Trong đó, Arab Saudi, quốc gia dẫn đầu thế giới về xuất khẩu dầu mỏ, đã tăng cường lưu lượng dầu thô xuất khẩu qua đường ống Đông-Tây đến cảng Yanbu trên Biển Đỏ và từ đó bơm dầu lên tàu biển để xuất khẩu. Tuyến ống này được cho là có thể bơm 7 triệu thùng dầu/ngày.
Tại UAE, đường ống chạy từ Habshan ở Abu Dhabi đến cảng Fujairah bên bờ vịnh Oman, cũng được tăng công suất bơm từ 1,1 triệu thùng/ngày lên 1,8 triệu thùng. Iraq một thành viên sáng lập của tổ chức OPEC có doanh thu từ bán dầu thô chiếm 90% ngân sách quốc gia, cũng thông báo sẽ tìm cách tăng xuất khẩu qua đường ống dẫn dầu chạy qua vùng Kurdistan đến cảng Ceyhan ở Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời với việc vận chuyển dầu bằng đường bộ.
Các đường ống dẫn dầu trở thành "cứu tinh" của các nước vùng Vịnh trong khủng hoảng. Ảnh: Anadolu
Các nước nhập khẩu năng lượng, nhất là ở các nền kinh tế sôi động châu Á, cũng đồng loạt ban bố các giải pháp nhằm khuyến khích sử dụng năng lượng hiệu quả, đồng thời cắt giảm một số loại thuế với năng lượng nhằm giảm áp lực với người dân.
Theo Bloomberg, tại Thái Lan, chính phủ đã chỉ thị các cơ quan áp dụng hình thức làm việc tại nhà và tạm dừng các chuyến đi nước ngoài không cần thiết. Philippines, quốc gia nhập khẩu gần như toàn bộ dầu, bắt đầu áp dụng tạm thời chế độ làm việc 4 ngày/tuần cho các văn phòng chính phủ, đề nghị sử dụng thang máy hạn chế và điều hòa không khí được đặt ở mức tối thiểu 24°C.
Pakistan cũng đã giảm giờ làm việc mỗi tuần, đóng cửa một số trường học. Ấn Độ thì viện dẫn quyền khẩn cấp để chuyển hướng nguồn cung cấp khí dầu mỏ hóa lỏng từ người dùng công nghiệp sang các hộ gia đình.
Trong nỗ lực xoa dịu tình hình, Washington đã cân nhắc nới lỏng một phần các biện pháp trừng phạt đối với dầu mỏ Nga, nhằm tăng nguồn cung cho thị trường năng lượng toàn cầu. Mỹ trước đó cũng miễn trừ trừng phạt 30 ngày với Ấn Độ, quốc gia nhập khẩu lượng lớn dầu thô của Nga.
Áp lực năng lượng chưa tan
Priyanka Sachdeva, một nhà phân tích của Phillip Nova nhận định trên Reuters: “Các cuộc thảo luận xung quanh việc nới lỏng lệnh trừng phạt đối với dầu mỏ của Nga, những bình luận từ Tổng thống Trump ám chỉ rằng cuộc xung đột cuối cùng có thể giảm leo thang, và khả năng các nước sử dụng kho dự trữ dầu chiến lược đều hướng đến cùng một thông điệp - rằng dầu thô bằng cách nào đó sẽ tiếp tục được đưa ra thị trường”.
Tuy nhiên, những diễn biến hiện nay cho thấy cả hai vấn đề cốt lõi dẫn đến sự thiếu hụt nguồn cung là tình hình eo biển Hormuz và việc các nước Trung Đông cắt giảm sản lượng, chưa được giải quyết triệt để.
Một lượng lớn tàu bè mắc kẹt ở hai đầu eo biển Hormuz do xung đột leo thang (8h20 sáng 12/3, giờ Hà Nội). Ảnh: MarineTraffic
Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) ngày 11/3 cho biết Tehran không cho phép xuất khẩu “một lít dầu” nào qua eo biển Hormuz nếu các cuộc tấn công của Mỹ và Israel vẫn tiếp diễn. Trong ngày 11/3, ít nhất 3 tàu chở hàng cố gắng vượt eo biển Hormuz đã bị hư hại do các vụ nổ. Hải quân Thái Lan xác nhận một trong 3 tàu bị hư hại là tàu chở hàng Mayuree Naree bị tấn công trên eo biển Hormuz, sau khi rời cảng Khalifa tại UAE.
Về các biện pháp can thiệp cấp bách, các nhà quan sát tin rằng chúng chỉ có tác động trong một giai đoạn nhất định. Bất cứ kho dự trữ nào, dù là của IEA hay G7, vẫn thấp hơn nhiều so với mức thiếu hụt nếu nguồn cung từ Trung Đông nếu sự gián đoạn đó diễn ra nhiều ngày liên tục.
“Vấn đề không chỉ còn là giá cả nữa, mà chủ yếu là vấn đề nguồn cung và nguồn dự trữ khẩn cấp đang cạn kiệt nhanh chóng. Bất kỳ chính phủ nào cũng sẽ ưu tiên người dân hơn các ngành công nghiệp trong thời kỳ thiếu hụt. Nhưng các ngành công nghiệp đang bị ảnh hưởng, điều này cuối cùng sẽ tác động đến tăng trưởng kinh tế”, bà Madhavi Arora, nhà kinh tế học Ấn Độ, cảnh báo.
Trong khi Arab Saudi và UAE có thể tìm các tuyến đường mới, hầu hết các nước vùng Vịnh khác đều trông đợi vào tuyến đường đi qua eo biển Hormuz. Tập đoàn dầu khí Bapco của Bahrain đã tuyên bố tình trạng bất khả kháng từ ngày 10/3, tương tự Qatar, quốc gia sản xuất khoảng 20% lượng khí đốt tự nhiên hóa lỏng của thế giới.
Các hãng bay châu Âu chịu tác động mạnh do khoảng 30% nhiên liệu máy bay nhập khẩu của châu Âu đến từ vùng Vịnh, theo OilPrice. Ảnh minh họa: CNN
Về khả năng lưu trữ, theo ngân hàng đầu tư JP Morgan của Mỹ, các nước vùng Vịnh có thể dự trữ tối đa 343 triệu thùng dầu các loại. Thông thường, mỗi ngày eo biển Hormuz trung chuyển 15 triệu thùng dầu thô và 4 triệu thùng sản phẩm tinh chế (xăng, diesel, nhiên liệu máy bay…). JP Morgan tính toán rằng các quốc gia vùng Vịnh chỉ có không gian dự trữ trong khoảng 22 ngày kể từ khi eo biển Hormuz bị phong tỏa.
Xung đột hiện đã kéo dài sang ngày thứ 13 và chưa hạ nhiệt. Do không còn không gian lưu trữ và nguy cơ bị tập kích, một số giếng dầu, cơ sở sản xuất dầu ở Trung Đông buộc phải hạn chế khai thác. Dữ liệu mới nhất cho thấy Iraq đã phải cắt giảm 1,5 triệu thùng/ngày; Arab Saudi giảm 2,5 triệu thùng/ngày; còn UAE khoảng 800.000 thùng/ngày; Kuwait nửa triệu thùng/ngày.
Ngoài ra, một số cơ sở bị đình trệ hoạt động do trúng hỏa lực, khiến các nhà máy có công suất lọc gần 2 triệu thùng/ngày đình trệ, bao gồm các nhà máy ở Iran. Mới đây, Reuters cho biết nhà máy lọc dầu Ruwais của Các tiểu Vương quốc Arab Thống nhất (UAE), nơi có công suất lọc gần 1 triệu thùng/ngày, đã dừng hoạt động một phần vì bị UAV đánh trúng.
Dầu mỏ không chỉ phục vụ xe cộ, tàu thuyền đi lại, nó còn là thành phần không thể thiếu trong sản xuất hóa chất, phân bón và các loại khí công nghiệp.
Theo giới quan sát, ngay cả khi xung đột kết thúc, áp lực năng lượng và kinh tế sẽ chưa thể lập tức hạ nhiệt. Simon Flowers, chủ tịch kiêm nhà phân tích chính tại Wood Mackenzie khẳng định, “việc khôi phục chuỗi cung ứng không thể diễn ra nhanh chóng”, bởi các thùng dầu thành phẩm đang được lưu trữ tại các nhà máy lọc dầu hoặc cảng có thể được vận chuyển bằng tàu khi eo biển Hormuz thông thoáng trở lại, nhưng “nếu các giếng khai thác dầu đã ngừng hoạt động thời gian dài, việc khôi phục sản lượng tối đa sẽ mất vài tuần hoặc lâu hơn”.
Phùng Nguyễn