Giá đầu vào tăng: Điểm yếu lớn của nông nghiệp Việt Nam

Giá đầu vào tăng: Điểm yếu lớn của nông nghiệp Việt Nam
3 giờ trướcBài gốc
Bước vào vụ nuôi mới, nhiều vùng nuôi tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đối mặt với áp lực chi phí khi giá thức ăn thủy sản và con giống đồng loạt tăng.
Đối mặt áp lực chi phí đầu vào
Theo ghi nhận từ các hộ nuôi, giá nhiều loại thức ăn trong thượng tuần tháng 3/2026 đã tăng khoảng 20.000 – 30.000 đồng mỗi bao loại 20kg so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, giá thức ăn tôm phổ biến dao động từ 560.000 đến 900.000 đồng mỗi bao 20–25kg, tùy loại và hàm lượng dinh dưỡng.
Giá phân bón đang chịu áp lực tăng do chi phí nguyên liệu đầu vào leo thang.
Trong cơ cấu chi phí nuôi tôm, thức ăn luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất (chiếm khoảng 50%). Vì vậy, chỉ cần giá thức ăn tăng nhẹ cũng khiến tổng chi phí sản xuất tăng đáng kể.
Ngoài thức ăn, giá tôm giống ở ĐBSCL cũng có xu hướng đi lên. Nguyên nhân chủ yếu đến từ chi phí vận chuyển tăng và giá nguyên liệu sản xuất thức ăn cho tôm giống chịu tác động từ thị trường quốc tế.
Vì vậy, dù vụ nuôi mới đã bắt đầu, nhiều hộ dân lựa chọn giảm mật độ thả nuôi hoặc thu hẹp diện tích nhằm hạn chế rủi ro từ chi phí đầu vào tăng cao.
Không chỉ nuôi tôm, lĩnh vực chăn nuôi gia súc và gia cầm cũng đang chịu tác động rõ rệt từ việc giá thức ăn chăn nuôi tăng trở lại. Điều này đúng như dự báo trước đó, đó là giá nguyên liệu đầu vào dự báo tăng trở lại từ năm 2026 gây áp lực chi phí chăn nuôi của các nông hộ
Một số doanh nghiệp (DN) sản xuất thức ăn chăn nuôi (TĂCN) tại khu vực phía Bắc đã thông báo điều chỉnh giá nhiều dòng sản phẩm bắt đầu từ ngày 8 - 12/3/2026, với mức tăng phổ biến khoảng 200 – 300 đồng/kg. Đơn cử như thông báo của các DN: Công ty EH Miền Bắc Việt Nam, Công ty TNHH Haid Hải Dương, Công ty TNHH New Hope Hà Nội, Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Đại Uy Công ty TNHH Dinh dưỡng Quốc tế ERO Farm, Công ty TNHH Gold Coin Feedmill Hà Nam.
Nếu tính trên từng kilogram sản phẩm, mức tăng này không quá lớn. Tuy nhiên, đối với các trang trại chăn nuôi quy mô lớn sử dụng hàng nghìn tấn thức ăn mỗi năm, chi phí phát sinh là khá đáng kể.
Thực tế cho thấy TĂCN chiếm khoảng 60–70% tổng chi phí sản xuất trong ngành chăn nuôi. Vì vậy, chỉ cần giá thức ăn biến động cũng có thể làm thay đổi đáng kể hiệu quả kinh tế của các trang trại.
Trong khi đó, giá đầu ra của nhiều loại vật nuôi như lợn hoặc gia cầm chưa tăng tương ứng với chi phí đầu vào. Điều này khiến lợi nhuận của người chăn nuôi bị thu hẹp.
Theo các chuyên gia, diễn biến giá nguyên liệu TĂCN trên thị trường quốc tế sẽ tiếp tục ảnh hưởng trực tiếp đến giá trong nước khi mà hơn 70% nguyên liệu TĂCN phải nhập khẩu. Những nguyên liệu chính như ngô, đậu tương và lúa mì hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn cung từ nước ngoài.
Bộ phận phân tích thuộc Công ty chứng khoán PHS cho rằng phần lớn nguyên liệu TĂCN được nhập khẩu nên bị ảnh hưởng bởi nặng bởi sự trượt giá của USD, VND. Ba nguyên liệu chính là ngô, đậu và lúa mì đều được Ngân hàng Thế giới dự báo tăng giá trong giai đoạn 2026 – 2027 cùng với sự trượt giá 3.0% mỗi năm của VND sẽ làm áp lực gia tăng chi phí TĂCN.
Dễ tổn thương khi giá thế giới biến động
Không chỉ người chăn nuôi, trong bối cảnh giá ngô, đậu tương, lúa mì giao ngay quốc tế có xu hướng tăng trở lại, các DN sản xuất TĂCN đứng trước rủi ro: Biên lợi nhuận gộp thu hẹp, chuỗi cung ứng nguyên liệu chịu biến động, hiệu suất tài chính suy giảm nếu không có quy mô đủ lớn.
Bên cạnh đó, chuỗi cung ứng nguyên liệu trên thị trường quốc tế cũng đang trở nên khó dự đoán hơn. Nếu không có chiến lược dự trữ nguyên liệu và tối ưu chi phí hiệu quả, hoạt động kinh doanh của DN sản xuất TĂCN có thể bị ảnh hưởng đáng kể.
Song song với TĂCN, giá phân bón cũng đang chịu áp lực tăng do chi phí nguyên liệu đầu vào leo thang.
Như trước căng thẳng xung đột Trung Đông, theo Bộ phận phân tích thuộc Công ty chứng khoán VCBS, Trung Đông giữ vai trò trung tâm trong cán cân năng lượng toàn cầu, vì vậy bất kỳ diễn biến leo thang nào tại khu vực này đều có thể kích hoạt biến động mạnh ở giá dầu và LNG. Đối với nhóm phân bón, đây là biến số có độ nhạy cao nhất do khí tự nhiên là nguyên liệu đầu vào chủ chốt trong sản xuất ure.
“Khi giá dầu tăng, giá khí trên thị trường quốc tế thường điều chỉnh theo, kéo chi phí sản xuất ure toàn cầu đi lên. Nếu nguồn cung khí từ các nước xuất khẩu lớn như Iran hoặc Qatar bị gián đoạn, thị trường ure quốc tế thường phản ứng rất nhanh do tính chất thương mại tập trung và phụ thuộc vào đấu thầu nhập khẩu quy mô lớn (đặc biệt từ Ấn Độ)”, phía VCBS nhận định.
Không chỉ vậy, khu vực Trung đông chiếm khoảng 20–25% tổng xuất khẩu ure toàn cầu, 30–35% xuất khẩu ammonia toàn cầu và khoảng 10–15% xuất khẩu DAP, MAP toàn cầu. Do đó bất kỳ rủi ro nào làm gián đoạn tuyến vận tải qua Hormuz đều có thể làm gián đoạn 15– 20% nguồn cung phân bón thương mại toàn cầu.
Một điểm yếu khác của ngành phân bón Việt Nam là nguồn cung nguyên liệu trong nước còn hạn chế.
Hiện nay, tổng nhu cầu amoniac (NH3) tại Việt Nam khoảng 2,1 triệu tấn mỗi năm, trong khi nguồn cung nội địa chỉ đạt khoảng 500.000 – 600.000 tấn.
Phần lớn lượng NH3 còn lại phải nhập khẩu từ nước ngoài, với giá thường cao hơn khoảng 6–10% so với nguồn cung trong nước.
Để giảm chi phí, một số DN đã tận dụng lợi thế hạ tầng logistics nhằm tối ưu hoạt động nhập khẩu. Chẳng hạn, Công ty cổ phần DAP – Vinachem (DDV) nhập khẩu NH3 chủ yếu từ Trung Quốc và Indonesia.
Mặt khác, theo bộ phận phân tích thuộc Công ty chứng khoán PHS, giá phân bón DAP được dự báo sẽ tiếp tục xu hướng tăng trong 6 tháng đầu của năm 2026 nhờ nhu cầu mạnh và chi phí đầu vào cao.
Đơn cử như chi phí đầu vào, bao gồm lưu huỳnh (chiếm 29% tổng chi phí) và amoniac (25% tổng chi phí), duy trì ở mức cao trong quý 1/2026.
Trong khi đó, nguồn cung quặng nội địa hiện chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất phân DAP. Quặng chất lượng cao dần cạn kiệt, DN trong nước phải tiết kiệm quặng bằng cách duy trì sản xuất cầm chừng và bổ sung quặng nhập khẩu từ Ai Cập. Quặng nhập khẩu sẽ có chi phí cao, cộng thêm chi phí vận chuyển và lưu kho.
Những biến động gần đây của giá TĂCN, giá phân bón và nguyên liệu nhập khẩu cho thấy một thực tế: nông nghiệp Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào thị trường quốc tế.
Khi giá nguyên liệu toàn cầu tăng, chi phí đầu vào nông nghiệp trong nước lập tức chịu tác động. Điều này khiến người nông dân và DN dễ rơi vào vòng xoáy chi phí.
Trong bối cảnh thị trường quốc tế còn nhiều bất ổn, việc kiểm soát lạm phát chi phí đẩy và điều hành tỷ giá linh hoạt sẽ đóng vai trò quan trọng đối với ổn định sản xuất nông nghiệp.
Về dài hạn, các chuyên gia cho rằng cần phát triển nguồn nguyên liệu trong nước, tăng năng lực sản xuất phân bón và TĂCN, đồng thời cải thiện chuỗi cung ứng.
Nếu không giải quyết được “gót chân Achilles” này, ngành chăn nuôi và trồng trọt Việt Nam sẽ tiếp tục phải đối mặt với áp lực chi phí mỗi khi thị trường nguyên liệu thế giới biến động.
Thế Vinh
Nguồn Vnbusiness : https://vnbusiness.vn/gia-dau-vao-tang-diem-yeu-lon-cua-nong-nghiep-viet-nam.html