Ảnh minh họa. (Ảnh: TTXVN phát)
Ngày 11/5, nhằm ngăn chặn thất thoát tài nguyên và chống thất thu ngân sách, Ủy ban Nhân dân tỉnh Gia Lai vừa có chỉ thị số 08/CT-UBND yêu cầu tăng cường quản lý thuế trong hoạt động khai thác khoáng sản theo chuỗi khép kín từ khai thác, vận chuyển đến tiêu thụ và thực hiện nghĩa vụ tài chính; kiên quyết xử lý hành vi khai sai sản lượng, trốn thuế, thất thoát tài nguyên và thất thu ngân sách nhà nước.
Theo đó, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Phạm Anh Tuấn yêu cầu, các sở, ban, ngành, Ủy ban Nhân dân cấp xã phải chuyển mạnh từ “quản lý hành chính” sang “quản lý thực chất,” tổ chức quản lý thuế và quản lý sản lượng theo chuỗi khép kín: Khai thác - Vận chuyển - Tiêu thụ - Nghĩa vụ tài chính.
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh yêu cầu các đơn vị đẩy mạnh điện tử hóa, số hóa công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác khoáng sản; triển khai các giải pháp quản lý sản lượng kê khai thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường bảo đảm khớp đúng với sản lượng khai thác thực tế nhằm chống thất thu ngân sách.
Thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã cần tăng cường rà soát, kiểm tra nguồn gốc khoáng sản, đảm bảo nguyên tắc khoáng sản khai thác, tiêu thụ phải có nguồn gốc hợp pháp, được cấp phép khai thác đúng quy định.
Nâng cao trách nhiệm của Thủ trưởng các sở, ban, ngành và Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã trong việc phối hợp với cơ quan Thuế và các cơ quan chức năng để quản lý thu thuế đối với hoạt động khai thác khoáng sản; xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, liên tục nhằm bảo đảm kỷ cương tài chính trên địa bàn.
Cùng với đó, tỉnh quán triệt thực hiện phương châm “3 chủ động - 3 minh bạch,” gồm: chủ động phát hiện, chủ động phối hợp, chủ động xử lý; minh bạch sản lượng, minh bạch vận chuyển, minh bạch nghĩa vụ tài chính. Đồng thời thực hiện nguyên tắc “04 Không”: Không thất thoát tài nguyên - Không thất thu ngân sách - Không phát sinh điểm nóng - Không để khoảng trống quản lý.
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh cũng yêu cầu cơ quan thuế và các đơn vị liên quan cần xây dựng và vận hành cơ chế cung cấp, trao đổi thông tin trong quản lý sản lượng khai thuế, phí và sản lượng khai thác thực tế đối với hoạt động khai thác khoáng sản.
Cụ thể, cơ quan Thuế sẽ định kỳ cung cấp dữ liệu về sản lượng kê khai thuế, phí bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản cho Sở Nông nghiệp và Môi trường và Ủy ban Nhân dân cấp xã; đồng thời cung cấp tình hình chấp hành nghĩa vụ tài chính để phục vụ công tác phối hợp xử lý.
Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng hệ thống giám sát thống nhất (tích hợp dữ liệu camera, trạm cân, trang WebGIS khoáng sản) để kiểm soát sản lượng khai thác thực tế theo thời gian thực; tiếp nhận dữ liệu sản lượng khai thuế, phí từ cơ quan Thuế để đối chiếu, xác định các trường hợp sản lượng kê khai không phù hợp với Giấy phép khai thác hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
Ủy ban Nhân dân cấp xã được khẳng định vai trò “tuyến đầu” trong việc trực tiếp theo dõi, quản lý, bảo vệ khoáng sản trên địa bàn. Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật và Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh nếu để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, thất thoát tài nguyên dẫn đến thất thu ngân sách trên địa bàn mà không có giải pháp xử lý, ngăn chặn triệt để.
Các tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản được cấp phép khai thác khoáng sản phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật đối với các hành vi vi phạm; trường hợp cố tình khai báo sai sản lượng, trốn thuế hoặc chây ỳ không thực hiện nghĩa vụ tài chính với ngân sách nhà nước sẽ bị xử phạt hành chính, tước quyền sử dụng hoặc thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản theo quy định.
Theo Ủy ban Nhân dân tỉnh Gia Lai, thời gian qua, hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh vẫn còn những tồn tại, hạn chế, bất cập. Công tác quản lý khoáng sản khai thác ở một số địa phương chưa chặt chẽ; việc khai thác khoáng sản trái phép chưa được ngăn chặn triệt để, nhất là khai thác cát, sỏi lòng sông, đất sét, đất làm vật liệu san lấp.
Sản lượng tài nguyên khai thác đã được quản lý kê khai nộp thuế và số thuế đã nộp vào ngân sách nhà nước chưa phù hợp với quy mô, trữ lượng mỏ đã được cấp và thực tế hoạt động khai thác; một số doanh nghiệp được cấp phép khai thác khoáng sản chưa thực hiện nghiêm các quy định pháp luật trong việc xác lập các nghĩa vụ tài chính phát sinh. Cá biệt, có những đơn vị còn cố tình dây dưa, nợ đọng tiền thuế, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản kéo dài nhiều năm./.
(TTXVN/Vietnam+)