Giá lúa gạo hôm nay 24.1: Lúa Đông Xuân khó bật tăng

Giá lúa gạo hôm nay 24.1: Lúa Đông Xuân khó bật tăng
2 giờ trướcBài gốc
Giá lúa gạo hôm nay 24.1 giao dịch chậm.
Giá lúa gạo hôm nay 24.1
Ghi nhận giá lúa gạo hôm nay 24.1, cho thấy thị trường lúa gạo tiếp tục trầm lắng, giao dịch mua bán lúa Đông Xuân diễn ra chậm, giá các loại nhìn chung ổn định.
Tại An Giang, Tây Ninh, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp và Vĩnh Long, lượng giao dịch không nhiều, mặt bằng giá lúa tươi và lúa khô hầu như không biến động so với hôm qua. Trong đó, các giống lúa chất lượng như OM 18, Đài Thơm 8 tươi dao động 6.300–6.500 đồng/kg, lúa khô ở mức 6.500–6.800 đồng/kg; OM 380 tươi phổ biến 5.500–5.800 đồng/kg; OM 4218 khoảng 6.000–6.200 đồng/kg; IR 50404 giữ mức 5.500–5.600 đồng/kg; Jasmine tươi 6.800–7.100 đồng/kg; lúa Nhật 7.300–7.600 đồng/kg; ST24–ST25 khoảng 7.000–7.300 đồng/kg, trong khi RVT tiếp tục duy trì mức cao 7.800–8.100 đồng/kg.
Thị trường nếp cũng không ghi nhận biến động mới, giá nếp IR 4625 tươi dao động 7.300–7.500 đồng/kg, nếp khô 9.500–9.700 đồng/kg; nếp 3 tháng khô phổ biến quanh 9.600–9.700 đồng/kg.
Ở mặt hàng gạo trong nước, khảo sát tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy giá gạo nguyên liệu và thành phẩm cơ bản đi ngang. Gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 hiện ở mức 7.600–7.750 đồng/kg; OM 5451 từ 8.800–8.900 đồng/kg; Đài Thơm 8 khoảng 8.650–8.800 đồng/kg; IR 504 từ 7.600–7.700 đồng/kg; Sóc thơm 7.500–7.600 đồng/kg; CL 555 dao động 7.350–7.450 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.500–8.600 đồng/kg, trong khi gạo thành phẩm IR 504 giữ mức 9.500–9.700 đồng/kg.
Tại các địa phương như An Giang, Sa Đéc và An Cư (Đồng Tháp), lượng gạo về kho ít, các kho lớn hạn chế mua vào, giao dịch chậm, giá ít biến động. Trên thị trường bán lẻ, giá gạo tại các chợ tiếp tục đứng giá so với hôm qua, gạo Nàng Nhen vẫn cao nhất 28.000 đồng/kg, gạo thường phổ biến 12.000–14.000 đồng/kg, các dòng gạo thơm dao động 17.000–22.000 đồng/kg.
Giá gạo xuất khẩu hôm nay 24.1
Trên thị trường xuất khẩu, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho biết giá gạo thơm 5% tấm hiện dao động 420–440 USD/tấn; gạo 100% tấm ở mức 319–323 USD/tấn; trong khi gạo Jasmine được chào bán quanh ngưỡng 446–450 USD/tấn.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2026 sản lượng lúa hàng hóa của cả nước ước đạt khoảng 15,46 triệu tấn, tương đương 7,73 triệu tấn gạo hàng hóa dành cho xuất khẩu.
Về cơ cấu, gạo xuất khẩu của Việt Nam năm 2026 chủ yếu là gạo chất lượng cao và gạo thơm, với khối lượng khoảng 5,798 triệu tấn, chiếm 75% tổng lượng. Gạo nếp đạt khoảng 773.000 tấn, tương đương 10%; gạo chất lượng phục vụ chế biến ước gần 1,16 triệu tấn, chiếm khoảng 15%.
Trong đó, lượng gạo hàng hóa phục vụ xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4,014 triệu tấn; 6 tháng cuối năm khoảng 3,716 triệu tấn. Nguồn cung xuất khẩu tiếp tục tập trung chủ yếu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, cùng với một phần từ tỉnh Tây Ninh (trước đây là tỉnh Long An).
Hà Chi
Nguồn Kinh tế Môi trường : https://kinhtemoitruong.vn/gia-lua-gao-hom-nay-241-lua-dong-xuan-kho-bat-tang-105776.html