Ngày 13/1, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.
GIÁ GẠO
Hôm nay (13/1), giá gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động. Thị trường giá lúa gạo trong nước tương đối ổn định, gạo xuất khẩu đứng giá. Cụ thể, giá lúa IR 50404 tăng 100 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 tăng 200 đồng; lúa OM 18 tăng 400 đồng/kg; lúa OM 5451 tăng 200 đồng….
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa IR 50404 (tươi) hôm nay tăng 100 đồng/kg dao động ở mức 5.100 - 5.300 đồng/kg; giá lúa Đài Thơm 8 (tươi) tăng 200 đồng/kg dao động ở mốc 6.400 - 6.600 đồng/kg; giá lúa OM 18 (tươi) tăng 400 đồng/kg dao động ở mốc 6.400 - 6.600 đồng/kg; giá lúa tươi OM 5451 tăng 200 đồng dao động mốc 5.400 - 5.600 đồng/kg.
Tại nhiều địa phương hôm nay, giao dịch mua bán đều. Tại Đồng Tháp, nguồn ít, nông dân chủ động chào giá cao, giao dịch chốt đều. Tại Cần Thơ, nguồn lúa thu hoạch còn ít, thương lái ít mua, giá vững. Tại Vĩnh Long, giá lúa tại một số đồng đẹp nông dân neo giá cao, một số bạn hàng trả mức giá cũ. Tại An Giang, Tây Ninh, nguồn ít, nhu cầu lúa thơm - dẻo có khá, giá ít biến động.
Với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay tăng 50 đồng/kg dao động ở mức 7.550 - 7.650 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 7.340 - 7.450 đồng/kg tăng 100 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 dao động 8.700 - 8.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.200 - 7.300 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc dẻo dao động ở mức 7.600 - 7.800; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 dao động ở mức 7.950 - 8.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, gạo các loại ổn định. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mốc 11.000 - 12.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo Thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo Thơm Jasmine dao động ở mức 16.000 - 18.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đi đứng giá so với hôm qua. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, hiện gạo thơm 5% tấm giá dao động ở mức 420 - 440 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động ở mức 314 - 318 USD/tấn; gạo Jasmine giá dao động 447 - 451 USD/tấn.
GIÁ CÀ PHÊ
Thị trường cà phê trong nước hôm nay ghi nhận diễn biến khá ổn định khi giá thu mua tại các vùng trồng trọng điểm Tây Nguyên hầu như không thay đổi so với phiên trước. Mức giá phổ biến dao động trong khoảng 97.500 – 97.800 đồng/kg, tiếp tục duy trì ở vùng cao sau chuỗi ngày biến động nhẹ đầu tháng.
Tại các địa phương như Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng và Đắk Nông (Lâm Đồng), giá cà phê nhân xô không có sự chênh lệch lớn giữa các khu vực. Hoạt động thu mua diễn ra đều nhưng chưa thực sự sôi động, cho thấy thị trường đang bước vào giai đoạn ổn định ngắn hạn.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê trực tuyến robusta hợp đồng giao kỳ hạn tháng 3/2026 trên sàn London đảo chiều tăng nhẹ 0,36% (14 USD/tấn) so với phiên giao dịch trước, lên mức 3.917 USD/tấn. Hợp đồng giao kỳ hạn tháng 5/2026 tăng 0,21% (8 USD/tấn), đạt 3.845 USD/tấn.
Trên sàn giao dịch New York, giá cà phê arabica giao kỳ hạn tháng 03/2026 tiếp tục giảm thêm 0,44% (1,6 US cent/pound), xuống chỉ còn 356,05 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 5/2026 giảm 0,42% (1,45 US cent/pound), đạt 338,45 US cent/pound.
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, cà phê Arabica Brazil ghi nhận biến động trái chiều trong các kỳ giao hàng. Cụ thể: kỳ hạn tháng 3/2026 đạt mức 435,5 cent/lb, tăng nhẹ 1,95 cent/lb so với hôm qua. Trái lại, kỳ giao hàng tháng 12/2026 giảm mạnh 16,35 cent/lb, đạt mức 390,9 cent/lb.
GIÁ TIÊU
Giá tiêu trong nước hôm nay tiếp tục giữ ổn định. Hiện giá tiêu trong nước dao động từ 150.000 - 152.500 đồng/kg. Cụ thể, tại Gia Lai, giá tiêu hôm nay giao dịch ở mức 151.000 đồng/kg, không biến động so với hôm qua.
Đồng Nai hiện giao dịch hồ tiêu với giá 150.000 đồng/kg, thấp nhất trên cả nước hôm nay.
TP. Hồ Chí Minh giao dịch hồ tiêu với giá 151.500 đồng/kg. Tại Đắk Lắk và Lâm Đồng, giá tiêu cũng đi ngang, thương lái thu mua hồ tiêu sáng nay với giá 152.500 đồng/kg. Đây là mức giá cao nhất trên cả nước hôm nay.
Trên thị trường thế giới, giá tiêu không ghi nhận biến động mới. Các thị trường đều ổn định giá so với phiên giao dịch hôm qua.
Cụ thể, giá tiêu Brazil không biến động so với phiên giao dịch ngày hôm qua. Hiện giá tiêu Brazil giao dịch ở mức 6.200 USD/tấn.
Giá tiêu đen Lampung của Indonesia được niêm yết ở mức 6.751 USD/tấn; giá tiêu trắng Muntok của Indonesia cũng đi ngang, đạt mức 9.190 USD/tấn.
Giá tiêu trắng của Việt Nam hôm nay không thay đổi, neo cao ở mức 9.250 USD/tấn. Giá tiêu đen loại 500 gr/l đạt mức 6.500 USD/tấn; Tiêu đen loại 550 gr/l đạt 6.700 USD/tấn.
Tại Malaysia, giá tiêu đen ASTA hiện đang ổn định ở mức 9.000 USD/tấn. Giá tiêu trắng ASTA đạt 12.300 USD/tấn.
GIÁ CAO SU
Trong nước, giá thu mua cao su nguyên liệu bình ổn. Cụ thể, tại công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 440 đồng/độ TSC/kg, giá thu mua tại đội sản xuất 412 đồng/TSC/kg; còn giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa báo giá thu mua mủ nước ở mức 415 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 13.900 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.500 đồng/kg.
Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 403 - 408 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 368 - 419 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).
Công ty Phú Riềng chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su kỳ hạn tháng 3/2026 tại Trung Quốc tăng 0,1% (10 Nhân dân tệ) lên mức 15.925 Nhân dân tệ/tấn.
Giá cao su Thái Lan kỳ hạn tháng 2/2026 tăng 0,6% (0,4 Baht) lên mức 63 Baht/kg.
Tại Nhật Bản, giá cao su kỳ hạn tháng 2/2026 tăng 0,3% (1 Yên) lên mức 348 Yên/kg.
Ở góc độ chuỗi cung ứng, ngành cao su toàn cầu tiếp tục đón nhận những động thái đầu tư quy mô lớn. Ngày 9/12, Tập đoàn Kumho Tire (Hàn Quốc) công bố kế hoạch xây dựng nhà máy lốp xe mới tại khu công nghiệp Bitgreen, huyện Hampyeong, với tổng vốn đầu tư 661 tỷ won (khoảng 390 triệu euro). Giai đoạn 1 của dự án có công suất 5,3 triệu lốp xe và 7 triệu đơn vị cao su tinh luyện mỗi năm, dự kiến hoàn thành cuối năm 2027 và đi vào sản xuất từ 2028.
Metso Corp. (Phần Lan) cũng thông báo đầu tư nhà máy sản xuất sản phẩm cao su tại Chiết Giang (Trung Quốc), dự kiến vận hành từ quý I/2026. Chuỗi dự án này được đánh giá sẽ tạo lực đỡ cho nhu cầu cao su công nghiệp trong trung hạn, góp phần ổn định thị trường sau giai đoạn biến động kéo dài.
GIÁ THỊT LỢN
Khảo sát tại khu vực miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay bùng nổ khi đồng loạt tăng từ 1.000 đồng/kg đến 3.000 đồng/kg.
Cụ thể, các tỉnh Tuyên Quang, Cao Bằng, Lào Cai, Điện Biên và Phú Thọ ghi nhận mức tăng mạnh nhất khu vực là 3.000 đồng/kg, cùng đạt mốc 75.000 đồng/kg. Cùng chung mức giá cao nhất 75.000 đồng/kg này còn có Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình và Hưng Yên sau khi tăng thêm 2.000 đồng/kg, riêng Bắc Ninh tăng nhẹ 1.000 đồng/kg nhưng vẫn giữ vững vị thế ở ngưỡng đỉnh này.
Ở mức giá thấp hơn, hai tỉnh Lạng Sơn và Sơn La cùng tăng thêm 2.000 đồng/kg, hiện đang thu mua ở mức 74.000 đồng/kg. Địa phương có giá thấp nhất khu vực là Lai Châu cũng điều chỉnh tăng 2.000 đồng/kg, đạt mức 73.000 đồng/kg.
Hiện giá lợn tại miền Bắc dao động trong khoảng 73.000 - 75.000 đồng/kg.
Tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi sáng nay cũng duy trì xu hướng đi lên so với hôm trước.
Các địa phương đồng loạt tăng thêm 1.000 đồng/kg. Theo đó, Hà Tĩnh vươn lên mức 71.000 đồng/kg. Ba tỉnh Quảng Trị, Quảng Ngãi và Đắk Lắk cùng ghi nhận mức giá 70.000 đồng/kg. Nhóm các tỉnh gồm Huế, Đà Nẵng, Gia Lai và Khánh Hòa hiện đang thu mua lợn hơi ở mức 69.000 đồng/kg. Tỉnh Lâm Đồng cũng tăng thêm 1.000 đồng/kg, đạt mốc 68.000 đồng/kg.
Trong khi đó, hai tỉnh dẫn đầu là Thanh Hóa (73.000 đồng/kg) và Nghệ An (72.000 đồng/kg) giữ giá ổn định so với hôm trước.
Hiện giá lợn tại miền Trung - Tây Nguyên dao động trong khoảng 68.000 - 73.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, giá lợn hơi sáng nay cũng không nằm ngoài xu hướng tăng giá của cả nước với mức điều chỉnh từ 1.000 đồng/kg đến 2.000 đồng/kg.
Mức tăng mạnh nhất khu vực là 2.000 đồng/kg ghi nhận tại Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Sau điều chỉnh, giá lợn tại Đồng Nai và TP Hồ Chí Minh đạt 69.000 đồng/kg, trong khi Cần Thơ chạm mốc 65.000 đồng/kg.
Các địa phương khác tăng nhẹ 1.000 đồng/kg bao gồm: Tây Ninh (đạt 68.000 đồng/kg), Đồng Tháp và Vĩnh Long (cùng đạt 66.000 đồng/kg), Cà Mau (đạt 65.000 đồng/kg). Tỉnh An Giang dù cũng tăng thêm 1.000 đồng/kg nhưng hiện vẫn là nơi có mức giá thấp nhất khu vực và cả nước với 64.000 đồng/kg.
Hiện giá lợn tại miền Trung - Tây Nguyên dao động trong khoảng 64.000 - 69.000 đồng/kg.
Nhìn chung, giá lợn hơi toàn quốc hôm nay đang ở mức rất cao. Giá thu mua thấp nhất cả nước hiện là 64.000 đồng/kg tại An Giang, trong khi ngưỡng giá cao nhất đã mở rộng ra nhiều tỉnh miền Bắc với mức 75.000 đồng/kg.
Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.
Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.
Minh Hoàng