Giá nông sản hôm nay (2/3): Giá cà phê và hồ tiêu đồng loạt giảm

Giá nông sản hôm nay (2/3): Giá cà phê và hồ tiêu đồng loạt giảm
6 giờ trướcBài gốc
Ngày 2/3, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.
GIÁ GẠO
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và Lúa gạo Việt, giá gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 hôm nay tăng 100 đồng/kg dao động 9.200 - 9.300 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 giảm 100 đồng/kg dao động ở mức 7.900 - 8.000 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 - 8.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.900 - 9.100 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.600 - 7.770 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 dao động ở mức 8.800 - 8.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 9.500 - 9.700 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, gạo các loại bình giá so với hôm qua. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo thường dao động ở mốc 12.000 - 13.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Tương tự với mặt hàng lúa, giá lúa tươi IR 50404 hôm nay dao động ở mức 5.400 - 5.500 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.800 - 6.000 đồng/kg; giá lúa OM 4218 dao động 6.200 - 6.400 đồng/kg; giá lúa OM 18 (tươi) dao động ở mốc 6.500 - 6.700 đồng/kg; giá lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.500 - 6.700 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.200 - 5.400 đồng/kg.
Tại các địa phương hôm nay, giao dịch mua bán trở lại nhưng thương lái ít mua, lúa tươi vững giá. Tại An Giang, giao dịch mua bán yếu, thương lái hỏi mua trở lại, giao dịch chốt ít, giá tương đối ổn định. Tại Đồng Tháp, nhiều bạn hàng hỏi mua trở lại, giá ít biến động. Tại Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long, Tây Ninh, giao dịch lúa đầu năm ít, thương lái hỏi mua trở lại, giá ít biến động.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam biến động trái chiều so với đầu tuần. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, hiện gạo thơm 5% tấm giá dao động ở mức 400 - 415 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động ở mức 316 - 320 USD/tấn (giảm 2 USD/tấn); gạo Jasmine giá dao động 433 - 437 USD/tấn (tăng 2 USD/tấn).
GIÁ CÀ PHÊ
Giá cà phê khu vực Tây Nguyên hôm nay cũng điều chỉnh giảm theo xu hướng chung. Đắk Lắk, Đắk Nông và Gia Lai đồng loạt giảm 1.000 đồng/kg, xuống mức 96.000 đồng/kg. Lâm Đồng giảm 800 đồng/kg, còn 95.500 đồng/kg.
Dù giảm so với các phiên trước, mặt bằng giá hiện nay vẫn ở vùng cao so với nhiều năm gần đây, tạo dư địa lợi nhuận tích cực cho người trồng.
Trái ngược với diễn biến giá thế giới, xuất khẩu cà phê Việt Nam vẫn ghi nhận khởi đầu năm 2026 đầy tích cực. Theo số liệu của Cục Hải quan, tính đến ngày 15/2, Việt Nam đã xuất khẩu gần 319.000 tấn cà phê, thu về 1,53 tỷ USD. So với cùng kỳ năm ngoái, lượng xuất khẩu tăng 44,1% và kim ngạch tăng 25,7%.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê biến động trái chiều. Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, giá cà phê Robusta tại London ghi nhận phiên tăng giảm đan xen trong các kỳ giao hàng. Cụ thể, hợp đồng giao tháng 3/2026 tăng nhẹ 0,27% (10 USD/tấn), lên mức 3.699 USD/tấn. Tuy nhiên, hợp đồng giao tháng 5/2026 lại giảm 14 USD/tấn, xuống còn 3.624 USD/tấn.
Trong khi đó, trên sàn New York, giá cà phê Arabica tiếp tục suy yếu. Hợp đồng tháng 3/2026 giảm 1,4 US cent/pound, về mức 284,6 US cent/pound. Hợp đồng tháng 5/2026 giảm 1,55 US cent/pound, còn 280,75 US cent/pound.
GIÁ TIÊU
Khảo sát tại các vùng trồng tiêu trọng điểm cho thấy, mặt bằng giá sáng nay đồng loạt điều chỉnh giảm. Tại Đắk Lắk và Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. HCM), giá tiêu giảm mạnh nhất 1.500 đồng/kg, hiện giao dịch quanh mức 148.000 đồng/kg. Đắk Nông giảm 1.000 đồng/kg, cũng về mốc 148.000 đồng/kg.
Gia Lai và Đồng Nai cùng giảm 1.000 đồng/kg, xuống còn 147.500 đồng/kg, thấp nhất trong nhóm các địa phương chủ lực.
So với vùng đỉnh 150.000 đồng/kg thiết lập trước đó, giá tiêu hiện đã hạ nhiệt đáng kể. Tuy nhiên, nếu đặt trong bối cảnh dài hạn, mặt bằng này vẫn cao hơn rất nhiều so với giai đoạn 2020 - 2021, khi giá từng rơi xuống vùng đáy. Áp lực giảm giá hiện chủ yếu đến từ nguồn cung vụ mới tăng lên trong ngắn hạn. Tuy vậy, việc giá chỉ điều chỉnh ở mức vừa phải cho thấy lực cầu vẫn đang hiện diện, chưa xuất hiện tình trạng bán tháo ồ ạt.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu Indonesia cũng điều chỉnh giảm nhẹ. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen xuất khẩu của Indonesia giảm 9 USD/tấn, còn 7.011 USD/tấn; giá tiêu trắng Muntok giảm 12 USD/tấn, xuống 9.339 USD/tấn.
Trong khi đó, giá tiêu tại các quốc gia sản xuất lớn khác nhìn chung ổn định. Tiêu đen Brazil ASTA 570 duy trì 6.175 USD/tấn, tiêu đen Malaysia ở mức 9.100 USD/tấn. Giá tiêu xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục dao động 6.400 - 6.600 USD/tấn đối với tiêu đen 500 g/l và 550 g/l; tiêu trắng giữ ở 9.150 USD/tấn.
GIÁ CAO SU
Trong nước, giá thu mua cao su nguyên liệu ổn định. Cụ thể, tại Công ty Mang Yang, giá mủ nước dao động khoảng 379 - 384 đồng/TSC (loại 2 -loại 1), trong khi mủ đông tạp được thu mua trong khoảng 345 - 393 đồng/DRC.
Công ty Phú Riềng giữ giá mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, còn mủ nước duy trì 420 đồng/TSC.
Công ty Cao su Bình Long, giá thu mua tại nhà máy được giữ ở mức 432 đồng/độ TSC/kg, trong khi thu mua tại đội sản xuất ở mức 422 đồng/TSC/kg. Giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) duy trì 14.000 đồng/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa báo giá thu mua mủ nước 420 đồng/độ TSC/kg, áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30. Giá mủ đông DRC (35 - 44%) đạt 14.600 đồng/kg, còn mủ nguyên liệu ở mức 18.100 đồng/kg.
Đóng cửa phiên cuối tuần, giá cao su RSS 3 trên Sàn Tocom (Tokyo) tăng giảm lệch chiều tại các kỳ hạn giao hàng. Cụ thể, hợp đồng kỳ hạn tháng 3/2026 tăng 6.40 Yên/kg (+ 1,74 %), lên mức 373.30 Yên/kg; kỳ hạn tháng 4/2026 tăng 4.90 Yên/kg (+ 1,33 %), lên mức 372.90 Yên/kg; kỳ hạn tháng 6/2026 giảm 1.70 Yên/kg (- 0,45%), về mức 369.70 Yên/kg.
Trên Sàn Giao dịch Hàng hóa Thượng Hải (SHFE), giá cao su tự nhiên giảm ở tất cả các kỳ giao hàng. Theo đó, kỳ hạn tháng 3/2026 giảm 110 NDT/tấn (- 0,63%), xuống mức 17.055 NDT/tấn; kỳ hạn tháng 4/2026 giảm 165 NDT/tấn (- 0,95%), về mức 17.040 NDT/tấn; kỳ hạn tháng 5/2026 giảm 130 NDT/tấn (- 0,74%), xuống mức 17.090 NDT/tấn.
Trên Sàn giao dịch Singapore (SICOM), hợp đồng cao su giao tháng 3 giao dịch ở mức 199,8 US cent/kg, giảm 2,3%.
Thị trường cao su thế giới khép lại tuần giao dịch với sắc đỏ chiếm ưu thế, khi lực chốt lời gia tăng sau nhịp tăng mạnh kéo dài suốt tháng. Tại Trung Quốc, hợp đồng cao su giao tháng 5 trên SHFE lùi 65 Nhân dân tệ, còn 17.155 Nhân dân tệ/tấn (2.501,71 USD/tấn). Đáng chú ý, cao su butadien, nguyên liệu quan trọng cho ngành lốp xe giảm sâu hơn 2%, xuống 12.630 Nhân dân tệ/tấn. Diễn biến này cho thấy tâm lý thận trọng đang lan rộng, không chỉ ở thị trường cao su tự nhiên mà cả phân khúc cao su tổng hợp.
Trước đó, giá cao su từng vọt lên mức cao nhất trong vòng một năm do nguồn cung thắt chặt. Giai đoạn nghỉ đông từ tháng 2 đến tháng 5 khiến sản lượng khai thác tại Thái Lan và các nước Đông Nam Á suy giảm rõ rệt. Tuy nhiên, theo ghi nhận từ giới thương nhân Singapore và trang tin tài chính Tonghuashun (Trung Quốc), áp lực chốt lời trước kỳ nghỉ cuối tuần đã kéo giá giao ngay đi xuống, tạo hiệu ứng lan sang thị trường kỳ hạn.
GIÁ THỊT LỢN
Khảo sát tại miền Bắc, giá lợn hơi tuần qua liên tục điều chỉnh giảm, với biên độ 1.000 - 3.000 đồng/kg so với đầu tuần. Hiện tại, các thương lái tại khu vực này thu mua lợn hơi trong khoảng 69.000 - 71.000 đồng/kg.
Bắc Ninh là địa phương duy nhất còn giữ mức 71.000 đồng/kg, cao nhất khu vực. Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Cao Bằng, Điện Biên và Hưng Yên đang giao dịch ở mức 70.000 đồng/kg.
Tại các tỉnh còn lại, giá lợn hơi phổ biến ở mức 69.000 đồng/kg. Việc mức giá này lan rộng cho thấy áp lực cung – cầu đang nghiêng về phía nguồn cung, trong khi tiêu thụ chưa khởi sắc.
Tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi cũng duy trì xu hướng giảm trong tuần qua. Giá lợn hơi toàn khu vực hiện dao động từ 69.000 - 72.000 đồng/kg.
Lâm Đồng vẫn là địa phương có giá cao nhất với 72.000 đồng/kg. Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh duy trì ở mức thấp 69.000 đồng/kg.
Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng và Quảng Ngãi giữ mốc 71.000 đồng/kg. Khánh Hòa, Gia Lai và Đắk Lắk giao dịch ở mức 70.000 đồng/kg. Việc nhiều tỉnh lùi về vùng 69.000 – 70.000 đồng/kg cho thấy thị trường chưa tìm được động lực tăng giá trong ngắn hạn.
Tại miền Nam, giá lợn hơi có diễn biến ổn định hơn trong tuần qua. So với đầu tuần, chỉ Đồng Tháp và Vĩnh Long giảm nhẹ 1.000 đồng/kg. Hiện giá lợn hơi tại miền Nam dao động trong khoảng 69.000 - 72.000 đồng/kg.
Đồng Nai, Tây Ninh và TP. Hồ Chí Minh tiếp tục giữ mức cao nhất 72.000 đồng/kg. Đồng Tháp giao dịch tại 71.000 đồng/kg. An Giang, Cà Mau và Vĩnh Long duy trì 70.000 đồng/kg, trong khi Cần Thơ thấp nhất khu vực ở 69.000 đồng/kg.
Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.
Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.
Minh Đăng
Nguồn Thương Gia : https://thuonggiaonline.vn/gia-nong-san-hom-nay-23-gia-ca-phe-va-ho-tieu-dong-loat-giam-post568415.html