Ngày 24/4, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.
GIÁ GẠO
Giá gạo hôm nay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động, trong khi đó, một số loại gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng nhẹ. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 tăng 100 đồng/kg dao động ở mức 8.100 - 8.200 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 tăng 50 đồng/kg dao động ở mức 8.150 - 8.250 đồng/kg…
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay tăng 100 đồng/kg dao động ở mức 8.100 - 8.200 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 tăng 50 đồng/kg dao động ở mức 8.150 - 8.250 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 - 8.050 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 tăng 300 đồng/kg dao động ở 10.750 - 10.090 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo đi ngang. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 - 15.000 đồng/kg, gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Tương tự với mặt hàng lúa, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 6.000 - 6.200; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.000 - 6.100; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.800 - 5.900 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 - 5.200 đồng/kg
Tại các địa phương hôm nay, giao dịch khởi sắc, giá ít biến động. Tại An Giang, Cần Thơ, nguồn lúa Đông Xuân thu hoạch rộ, nguồn nhiều, giá chững, thương lái chốt mua mới ít. Tại Tây Ninh, nguồn chưa thu hoạch còn lượng khá, nông dân chào giá cao hơn. Tại Cà Mau, Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long, giao dịch mua bán ít, giá ít biến động.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam hiện duy trì ở nhiều mức khác nhau. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm đang được chào bán trong khoảng 490 - 500 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động từ 334 - 338 USD/tấn; gạo Jasmine dao động ở mức 465 - 469 USD/tấn.
Trên thị trường thế giới, giá gạo tăng nhẹ. Cụ thể, tại Thái Lan, gạo 5% tấm dao động 386 - 390 USD/tấn, tăng 4 USD/tấn; gạo 100% tấm đạt 364 - 368 USD/tấn, tăng 5 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm ở mức 342 - 346 USD/tấn, tăng 2 USD/tấn; gạo 100% tấm chào bán 283 - 287 USD/tấn.
GIÁ CÀ PHÊ
Khảo sát tại khu vực Tây Nguyên cho thấy, giá cà phê sáng nay tăng từ 900 - 1.000 đồng/kg so với ngày hôm trước, đưa mặt bằng giá lên dao động trong khoảng 87.300 - 88.000 đồng/kg.
Trong đó, Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tăng 900 đồng/kg, lên 88.000 đồng/kg, cao nhất khu vực. Các địa phương như Đắk Lắk và Gia Lai cùng tăng 1.000 đồng/kg, đạt mức phổ biến 87.800 đồng/kg.
Lâm Đồng tiếp tục là địa phương có mức giá thấp hơn, song cũng tăng 1.000 đồng/kg, lên 87.300 đồng/kg. Nhìn chung, mặt bằng giá cà phê trong nước đang tiến sát ngưỡng 88.000 đồng/kg - mức cao đáng chú ý sau nhiều phiên biến động.
Đà tăng này phản ánh sự đồng thuận giữa thị trường nội địa và quốc tế, đồng thời cho thấy tâm lý kỳ vọng giá tiếp tục đi lên của người bán, trong bối cảnh nguồn cung chưa thực sự dồi dào.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê bật tăng mạnh trên cả hai sàn giao dịch chính. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta kỳ hạn tháng 5/2026 tăng 2,37% (82 USD/tấn), lên 3.539 USD/tấn. Hợp đồng tháng 7/2026 cũng tăng 1,95%, đạt 3.404 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá cà phê Arabica tăng mạnh hơn. Hợp đồng kỳ hạn tháng 5/2026 tăng tới 4,64%, lên 302,4 US cent/pound, còn hợp đồng tháng 7/2026 tăng 2,3%, đạt 289,15 US cent/pound.
Theo các dữ liệu tổng hợp từ Reuters và Barchart, giá cà phê đã chạm mức cao nhất trong khoảng 3,5 tuần cho thấy lực mua đang quay trở lại thị trường sau giai đoạn điều chỉnh.
GIÁ TIÊU
Thị trường hồ tiêu hôm nay ghi nhận nhịp điều chỉnh nhẹ sau chuỗi phiên tăng trước đó. Giá tiêu trong nước giảm từ 500 - 1.000 đồng/kg tại một số khu vực. Hiện, giá dao động trong khoảng 140.000 - 142.000 đồng/kg.
Trong đó, Gia Lai là địa phương ghi nhận mức giảm mạnh nhất, giảm 1.000 đồng/kg, xuống còn 140.000 đồng/kg. Tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. HCM) và Đồng Nai, giá tiêu giảm 500 đồng/kg, phổ biến ở mức 140.500 đồng/kg.
Trong khi đó, khu vực Tây Nguyên tiếp tục giữ vai trò “neo giá” khi Đắk Lắk và Đắk Nông cũ (Lâm Đông) duy trì mức 142.000 đồng/kg, cao nhất cả nước. Điều này cho thấy dù thị trường có điều chỉnh, nhưng mặt bằng giá vẫn ở vùng cao sau giai đoạn tăng mạnh trước đó.
Diễn biến giảm nhẹ được đánh giá là nhịp điều chỉnh kỹ thuật, khi thị trường cần thời gian cân bằng lại sau đợt tăng, đồng thời phản ánh tâm lý thận trọng của người mua trong bối cảnh chi phí đầu vào và vận chuyển vẫn ở mức cao.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu cũng ghi nhận xu hướng giảm nhẹ. Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia giảm 0,21%, xuống còn 7.047 USD/tấn.
Ở các quốc gia sản xuất lớn khác, mặt bằng giá nhìn chung ổn định. Tiêu đen Brazil ASTA 570 tiếp tục được niêm yết ở mức 6.000 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia giữ mức 9.300 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu vẫn duy trì trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu Muntok của Indonesia giảm nhẹ xuống 9.284 USD/tấn, trong khi Việt Nam và Malaysia giữ ổn định lần lượt ở mức 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
Nhìn chung, thị trường hồ tiêu toàn cầu đang trong trạng thái ổn định với những điều chỉnh nhỏ, phản ánh sự thận trọng của các nhà giao dịch trước những biến động bên ngoài.
GIÁ CAO SU
Trong nước, thị trường cao su trong nước tiếp tục giữ trạng thái ổn định tại hầu hết doanh nghiệp lớn, cho thấy sự chủ động điều tiết nguồn cung và giá thu mua.
Cụ thể, tại Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).
Công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại nhà máy ở mức 432 đồng/độ TSC/kg; giá thu mua tại đội sản xuất 422 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, giá cao su kỳ hạn tháng 5/2026 tại Thái Lan tăng 0,9% (0,7 Baht) lên mức 80,3 Baht/kg.
Tại Nhật Bản, giá cao su kỳ hạn tháng 5/2026 giảm 0,32% (1,2 Yên) về mức 379,1 Yên/kg.
Tại Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn tháng 5 tăng 1,14% (190 Nhân dân tệ) lên mức 16.910 Nhân dân tệ/tấn.
Trên sàn SICOM Singapore, hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 5 giao dịch ở mức 206,5 US cent/kg, tăng 0,6%.
Giá cao su kỳ hạn Nhật Bản giảm do chịu ảnh hưởng từ đà đi xuống của giá dầu, trong khi lượng tồn kho gia tăng tại Thanh Đảo, trung tâm nhập khẩu cao su lớn của Trung Quốc tiếp tục gây sức ép lên thị trường.
Cụ thể, hợp đồng cao su giao tháng 9 trên Sàn Osaka (OSE) giảm 1 Yên, tương đương 0,26%, xuống còn 390,4 Yên/kg (khoảng 2,46 USD/kg).
Trái lại, trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE), hợp đồng cao su giao tháng 9 tăng 225 Nhân dân tệ, tương đương 1,34%, lên 17.065 Nhân dân tệ/tấn (khoảng 2.504,22 USD/tấn). Tuy nhiên, hợp đồng cao su butadiene giao tháng 5, loại cao su tổng hợp được giao dịch nhiều nhất lại giảm 100 Nhân dân tệ, tương đương 0,63%, xuống còn 15.655 Nhân dân tệ/tấn.
GIÁ THỊT LỢN
Khảo sát tại miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay duy trì ổn định tại tất cả các địa phương. Cụ thể, giá lợn tại Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Ninh Bình, Lào Cai, Điện Biên, Phú Thọ và Sơn La cùng giữ mức 64.000 đồng/kg. Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hà Nội và Hải Phòng duy trì mức 65.000 đồng/kg. Hưng Yên tiếp tục là địa phương có giá cao nhất khu vực với 66.000 đồng/kg, trong khi Lai Châu giữ mức thấp nhất 63.000 đồng/kg.
Hiện giá lợn hơi tại miền Bắc dao động từ 64.000 đồng/kg đến 66.000 đồng/kg.
Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay không biến động. Cụ thể, giá lợn ở Thanh Hóa, Gia Lai và Khánh Hòa cùng duy trì mức 65.000 đồng/kg. Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng và Quảng Ngãi giữ mức 64.000 đồng/kg. Đắk Lắk tiếp tục neo tại 68.000 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng giữ mức cao nhất khu vực là 69.000 đồng/kg.
Hiện giá lợn hơi tại miền Trung - Tây Nguyên dao động từ 63.000 đồng/kg đến 69.000 đồng/kg.
Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay tăng tại một địa phương. Cụ thể, giá lợn tại Cần Thơ tăng 1.000 đồng/kg, lên mức 68.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá lợn tại Đồng Nai, Đồng Tháp, TP Hồ Chí Minh và Vĩnh Long cùng giữ mức 69.000 đồng/kg. Tây Ninh và Cà Mau duy trì mức 68.000 đồng/kg, trong khi An Giang giữ mức 67.000 đồng/kg.
Hiện giá lợn hơi tại miền Nam dao động từ 67.000 đồng/kg đến 69.000 đồng/kg.
Nhìn chung, giá lợn hơi hôm nay biến động tăng nhẹ tại Cần Thơ, trong khi các khu vực còn lại tiếp tục đi ngang. Mặt bằng giá cao nhất cả nước vẫn duy trì tại 69.000 đồng/kg, xuất hiện tại nhiều địa phương ở cả ba miền.
Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.
Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.
Minh Đăng