Giá nông sản ngày 18/1/2026: Cà phê và hồ tiêu cùng neo ở mức cao

Giá nông sản ngày 18/1/2026: Cà phê và hồ tiêu cùng neo ở mức cao
7 giờ trướcBài gốc
Thị trường cà phê
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, thị trường cà phê Robusta tại London ghi nhận xu hướng trái chiều giữa các kỳ hạn. Cụ thể, kỳ hạn tháng 1/2026 giảm nhẹ 8 USD/tấn, xuống còn 4195 USD/tấn, trong khi hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng 8 USD/tấn, đạt 3825 USD/tấn.
Ảnh minh họa. Ảnh: Internet
Trên sàn New York, cà phê Arabica tiếp tục chuỗi giảm giá ở tất cả các kỳ hạn. Kỳ hạn tháng 3/2026 giảm 2,8 cent/lb, còn 355,3 cent/lb, còn hợp đồng tháng 12/2026 hạ thêm 2,75 cent/lb, xuống 320,55 cent/lb.
Phiên giao dịch mới nhất ghi nhận cà phê Arabica Brazil cũng suy yếu ở các kỳ hạn. Cụ thể, kỳ hạn tháng 3/2026 giảm 2,3 cent/lb, còn 429,3 cent/lb, trong khi hợp đồng tháng 12/2026 hạ 3,65 cent/lb, đạt 390,75 cent/lb.
Trong nước, giá cà phê sáng 18/1 ghi nhận giảm nhẹ tại Lâm Đồng, còn lại các khu vực khác duy trì ổn định. Hiện mặt bằng giá cà phê nội địa dao động từ 98.300 - 99.000 đồng/kg tại các vùng trọng điểm Tây Nguyên.
Tại Đắk Lắk, giá cà phê sáng nay giữ nguyên so với hôm qua, vẫn ở mức 99.000 đồng/kg.
Tương tự, thị trường Gia Lai cũng ghi nhận giá cà phê đi ngang ở mức 99.000 đồng/kg. Đây là hai địa phương có mức giá cao nhất cả nước.
Riêng Lâm Đồng sáng nay giảm nhẹ 200 đồng/kg xuống còn 98.300 đồng/kg so với phiên trước. Mức giảm này được xem là nhỏ, chưa đủ tạo áp lực lên thị trường nội địa.
Trong ngắn hạn, thị trường cà phê trong nước nhiều khả năng vẫn được hỗ trợ bởi hai yếu tố chính: xu hướng tăng của thị trường thế giới và lượng hàng trong dân không được tung ra mạnh. Khi người trồng tiếp tục găm hàng, nguồn cung ra thị trường vẫn nhỏ giọt, khiến giá khó giảm sâu.
Tuy nhiên, rủi ro điều chỉnh vẫn tồn tại. Diễn biến của đồng USD có thể ảnh hưởng đến nhịp giá, bởi USD mạnh thường gây sức ép lên nhóm hàng hóa. Bên cạnh đó, việc chốt lời của giới đầu cơ trên sàn quốc tế cũng có thể tạo ra các biến động ngắn hạn, đặc biệt khi giá đã tiến gần vùng kháng cự tâm lý sau chuỗi tăng liên tục.
Với bối cảnh hiện nay, thị trường cà phê được đánh giá là đang ở trạng thái “neo cao” và biến động có chọn lọc, trong đó mức 99.000 đồng/kg trở thành ngưỡng đáng chú ý. Nếu thị trường quốc tế tiếp tục duy trì xu hướng tăng và không xảy ra điều chỉnh mạnh, giá cà phê trong nước có thể tiếp tục thử thách các vùng giá cao hơn trong những phiên tới.
Giá hồ tiêu ổn định
Thị trường hồ tiêu nội địa sáng 18/1 không có thêm biến động sau phiên giảm sâu hôm qua. Hiện giá hồ tiêu trong nước duy trì quanh mức 147.500 - 148.500 đồng/kg.
Tại Gia Lai và TP Hồ Chí Minh, giá tiêu sáng nay ổn định ở mức 148.000 đồng/kg, không thay đổi so với phiên trước. Đắk Lắk và Lâm Đồng vẫn giữ mức cao nhất cả nước, đạt 148.500 đồng/kg.
Ở chiều ngược lại, Đồng Nai tiếp tục là địa phương có mức giá thấp nhất, quanh 147.500 đồng/kg, không có thay đổi so với hôm qua.
Theo cập nhật từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) sáng 18/1/2026, giá tiêu xuất khẩu trên thị trường thế giới tiếp tục đi ngang so với phiên trước. Các thị trường lớn vẫn giữ trạng thái ổn định, thể hiện sự thận trọng của giới kinh doanh trong bối cảnh cung cầu chưa có yếu tố mới.
Tại Indonesia, tiêu đen Lampung được niêm yết ở mức 6.563 USD/tấn, không thay đổi so với hôm qua, trong khi tiêu trắng Muntok vẫn giao dịch quanh mức 9.118 USD/tấn.
Ở khu vực Nam Mỹ, giá tiêu Brazil duy trì ổn định ở mức 6.100 USD/tấn.
Thị trường Malaysia cuối tuần này vẫn giữ nguyên mức giá hiện tại, với tiêu đen ASTA ở mức 9.000 USD/tấn và tiêu trắng ASTA đạt 12.200 USD/tấn.
Đối với hồ tiêu Việt Nam xuất khẩu, giá tiêu trắng vẫn giữ ở mức cao 9.350 USD/tấn. Tiêu đen loại 500 g/l được giao dịch ở mức 6.600 USD/tấn, còn loại 550 g/l ổn định quanh 6.800 USD/tấn.
Diễn biến đi ngang của giá tiêu trong nước và quốc tế cho thấy thị trường đang trong giai đoạn tích lũy, chờ tín hiệu mới về nguồn cung, xuất khẩu và nhu cầu tiêu thụ thời gian tới.
Thông tin đáng chú ý nhất hiện nay trên thị trường hồ tiêu quốc tế đến từ Indonesia. Theo Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) dẫn số liệu từ ITC, trong tháng 11/2025, xuất khẩu hồ tiêu của Indonesia chỉ đạt 2.575 tấn, giảm 6% so với tháng trước và giảm mạnh 60% so với cùng kỳ năm 2024. Số liệu này phản ánh sự suy yếu rõ rệt của hoạt động giao hàng cuối năm cả về nhu cầu lẫn tiến độ thực hiện hợp đồng.
Tính chung 11 tháng năm 2025, lượng xuất khẩu của Indonesia đạt 32.160 tấn, thấp hơn 36,7% so với cùng kỳ 2024. Đáng chú ý, sự sụt giảm này diễn ra ở hầu hết các thị trường tiêu thụ lớn, trong đó xuất khẩu sang Việt Nam giảm trên 60%, kéo tổng cầu hồ tiêu Indonesia đi xuống mạnh.
Không chỉ Việt Nam, các thị trường châu Âu chủ lực như Đức và Hà Lan cũng ghi nhận mức giảm mạnh, cho thấy nhu cầu tiêu thụ từ khu vực EU chưa có dấu hiệu phục hồi. Dù Indonesia tăng xuất khẩu sang một số thị trường như Hàn Quốc, Philippines, Pháp, Malaysia và Nepal, nhưng đây đều là những thị trường nhỏ, chưa đủ để bù đắp sự thiếu hụt từ các khách hàng lớn.
Về sản xuất, sản lượng hồ tiêu của Indonesia trong năm 2025 ước đạt 53.000 tấn, giảm 10,1% do mưa nhiều và diện tích canh tác lẫn năng suất đều giảm. Lượng xuất khẩu cả năm ước đạt 35.000 tấn, giảm 36,7%, trong khi tồn kho dự kiến chỉ còn khoảng 13.000 tấn.
Đáng chú ý, Indonesia từng đóng vai trò là nguồn cung trung gian cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam trong phân khúc trung cấp, tận dụng thời điểm Việt Nam khan hàng để tăng thị phần. Tuy nhiên, khi sản lượng giảm và tồn kho thu hẹp, vai trò này có thể dần thay đổi, đặc biệt nếu các thị trường lớn bắt đầu tăng mua trở lại.
Lan Lê
Nguồn Doanh Nghiệp : https://doanhnghiepvn.vn/kinh-te/gia-nong-san-ngay-18-1-2026-ca-phe-va-ho-tieu-cung-neo-o-muc-cao/20260118081833442