Giá vật liệu tăng cao, áp lực đội vốn các dự án giao thông trọng điểm

Giá vật liệu tăng cao, áp lực đội vốn các dự án giao thông trọng điểm
3 giờ trướcBài gốc
Là nhà thầu lớn, Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn (Binh đoàn 12 - Bộ Quốc phòng) đang thi công hàng loạt công trình hạ tầng trọng điểm quốc gia như sân bay, đường bộ cao tốc, cầu và cảng biển. Tuy nhiên, việc giá nhiều loại vật liệu xây dựng tăng mạnh từ đầu năm 2026 đến nay đang khiến lãnh đạo đơn vị này đặc biệt lo lắng.
Cụ thể, giá thép xây dựng đã tăng khoảng 350.000 - 600.000 đồng/tấn, hiện dao động quanh mức 16,2 triệu đồng/tấn; giá đá xây dựng cũng tăng khoảng 10 - 15%, lên mức 280.000 - 650.000 đồng/m3. Đặc biệt, cát xây dựng ghi nhận mức tăng khoảng 5 - 10% so với đầu năm 2026.
Việc giá nhiều loại vật liệu xây dựng tăng đáng kể từ đầu năm 2026 đang tạo áp lực lớn đối với các nhà thầu thi công (Ảnh: Thanh Niên).
Dẫn câu chuyện thi công cao tốc Cần Thơ - Hậu Giang - Cà Mau về đích sớm vào cuối năm 2025 nhờ giải quyết được bài toán vật liệu, đại diện lãnh đạo Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn cho rằng giá cả và nguồn cung vật liệu hiện là mối quan tâm lớn nhất của các nhà thầu xây lắp.
“Trường Sơn luôn là đơn vị tiên phong, nơi nào khó khăn nhất là có chúng tôi. Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là miền Tây – nơi điều kiện thi công còn nhiều thách thức – chúng tôi tham gia nhiều dự án lớn. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất từ trước đến nay vẫn là vấn đề vật liệu. Dự án nào giải quyết được bài toán vật liệu thì dự án đó có thể về đích thắng lợi”, vị này cho biết.
Ông Nguyễn Viết Hải, Chủ tịch Tập đoàn Sơn Hải cũng cho biết, dù chưa thể khẳng định mức độ tác động cụ thể, song việc giá vật liệu xây dựng tăng mạnh chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tổng vốn đầu tư của các dự án.
“Giá vật liệu tăng thì kết cấu chi phí và giá thành công trình chắc chắn sẽ thay đổi. Tuy nhiên, biến động này diễn ra trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, từ khi khởi công cho đến khi quyết toán công trình, chứ không chỉ tại một thời điểm nhất định”, ông Hải nói.
Dự án cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh có tổng chiều dài 121km, được phân kỳ đầu tư thành hai giai đoạn với tổng mức đầu tư 25.550 tỷ đồng. Giai đoạn 1 của dự án thực hiện hơn 93km, bao gồm 2 hầm xuyên núi và 64 cầu vượt, được khởi công ngày 1/1/2024 và đang phấn đấu hoàn thành trong năm 2026.
Tuy vậy, theo đánh giá của lãnh đạo Tập đoàn Đèo Cả – đơn vị thi công dự án, để rút ngắn tiến độ khoảng 6 tháng như mục tiêu đặt ra, khó khăn về nguồn cung và giá thành vật liệu vẫn là một thách thức.
“Chúng tôi phải thích nghi với bối cảnh thực tế tại Việt Nam và liên tục cải tiến để rút ngắn thời gian thi công. Việc áp dụng phương pháp thi công hầm NATM cũng là một bước cải tiến từ công nghệ hầm truyền thống của Áo”, đại diện doanh nghiệp cho biết.
Vật liệu là đầu vào lớn của các công trình nên khi chi phí này tăng, tổng mức đầu tư xây lắp gần như chắc chắn bị đội lên (Ảnh: Thanh Niên).
Theo chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long, tác động của giá vật liệu đến giá thành công trình là rất rõ rệt và mang tính dây chuyền. Bởi vật liệu là đầu vào lớn của các công trình nên khi chi phí này tăng, tổng mức đầu tư xây lắp gần như chắc chắn bị đội lên.
“Tác động không chỉ ở một khâu mà có thể tạo ra hiệu ứng cộng dồn, khiến nhà thầu bị thu hẹp biên lợi nhuận, chậm tiến độ, thậm chí phải xin điều chỉnh giá hoặc giãn tiến độ dự án. Với các công trình hạ tầng, giao thông hoặc công trình xây dựng dân dụng quy mô lớn – nơi chi phí vật liệu chiếm tỷ lệ cao mức độ tác động sẽ càng mạnh”, ông Long phân tích.
Theo ông Nguyễn Thế Minh, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế và Quản lý đầu tư xây dựng (Bộ Xây dựng), để khắc phục tình trạng khan hiếm và tăng giá vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu thí điểm sử dụng cát nhiễm mặn tại khu vực cửa sông làm vật liệu đắp nền cho các dự án hạ tầng ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo đánh giá ban đầu, nếu nguồn vật liệu này được khai thác và sử dụng thay thế cát sông thì có thể đáp ứng yêu cầu cho các dự án.
“Để đánh giá tổng thể chi phí đầu tư theo cả vòng đời dự án, Bộ Xây dựng đã giao Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện tính ưu việt cũng như chi phí của giải pháp này, làm cơ sở báo cáo cấp có thẩm quyền. Nếu triển khai được tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thì đây sẽ là giải pháp hiệu quả, vừa kiểm soát rủi ro môi trường, vừa bảo đảm vấn đề thoát lũ cho khu vực”, ông Minh cho biết.
Về phía các địa phương, hiện một số tỉnh, thành cũng đã chỉ đạo ưu tiên nguồn vật liệu cho các dự án, công trình trọng điểm.
Trong buổi kiểm tra tình hình triển khai Dự án mở rộng cao tốc TP.HCM - Trung Lương - Mỹ Thuận mới đây, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cũng đề nghị các địa phương linh hoạt trong việc cấp phép khai thác mỏ cũng như nâng công suất khai thác nhằm đảm bảo nguồn vật liệu phục vụ thi công dự án.
Các địa phương được đề nghị rà soát, đẩy nhanh đưa các mỏ cát, đá đã cấp phép vào khai thác nhằm bảo đảm nguồn vật liệu cho các công trình trọng điểm quốc gia (Ảnh: Báo Xây dựng).
Cơn “bão giá” vật liệu xây dựng cùng tình trạng khan hiếm nguồn cung đang tạo áp lực đáng kể lên tiến độ và chi phí của nhiều dự án hạ tầng. Vì vậy, việc kiểm soát tốt nguồn cung, đồng thời thúc đẩy phát triển và sử dụng các loại vật liệu xanh, vật liệu thay thế được xem là giải pháp cần sớm triển khai để hạn chế nguy cơ “đội vốn” các công trình trọng điểm.
Từ đầu năm 2026 đến nay, thị trường vật liệu xây dựng ghi nhận xu hướng tăng giá ở nhiều nhóm mặt hàng chủ lực như thép, xi măng, cát, đá…
Trong bối cảnh hàng loạt dự án hạ tầng lớn đang được triển khai đồng loạt, đặc biệt là các công trình giao thông trọng điểm quốc gia, biến động giá vật liệu đang đặt ra nguy cơ hiện hữu: chi phí đầu tư bị đội lên, tiến độ thi công bị ảnh hưởng và hiệu quả sử dụng vốn công có thể bị suy giảm.
Thực tế cho thấy, chi phí vật liệu thường chiếm từ 60–70% tổng chi phí xây dựng. Vì vậy, chỉ cần giá vật liệu tăng trong thời gian ngắn cũng đủ làm xáo trộn bài toán tài chính của nhiều dự án. Khi các hợp đồng đã ký theo mặt bằng giá cũ, dù hợp đồng có thể cho phép điều chỉnh đơn giá, song, theo một số nhà thầu, mức điều chỉnh cũng khó bù đắp chi phí thực, và nhà thầu thi công thường bị thiệt.
Đáng chú ý, áp lực giá vật liệu không chỉ đến từ yếu tố thị trường đơn thuần. Một số địa phương vẫn còn tình trạng nguồn cung cát, đá xây dựng hạn chế; việc cấp phép khai thác mỏ mới còn chậm; quy hoạch mỏ vật liệu chưa theo kịp nhu cầu của các dự án hạ tầng quy mô lớn.
Bên cạnh đó, chi phí vận chuyển tăng, giá nhiên liệu biến động, cùng với nhu cầu xây dựng gia tăng khi nhiều dự án đồng loạt triển khai cũng góp phần đẩy giá vật liệu lên cao.
Trong bối cảnh Chính phủ đang thúc đẩy mạnh mẽ đầu tư công để tạo động lực tăng trưởng, việc kiểm soát biến động giá vật liệu xây dựng trở thành yêu cầu cấp thiết. Nếu không được quản lý hiệu quả, tình trạng tăng giá bất thường có thể gây ra hiệu ứng dây chuyền: dự án chậm tiến độ, nhà thầu gặp khó khăn tài chính, ngân sách phải điều chỉnh…
Khi vật liệu được quản lý hợp lý, mỗi công trình hạ tầng không chỉ là một dự án xây dựng, mà còn là nền móng cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế (Ảnh: Báo Xây dựng)
Điều cần thiết lúc này là một cơ chế quản lý vật liệu xây dựng chặt chẽ nhưng không cứng nhắc. Trước hết, các cơ quan quản lý cần tăng cường theo dõi, cập nhật và công bố kịp thời giá vật liệu xây dựng trên thị trường. Thông tin minh bạch sẽ giúp chủ đầu tư, nhà thầu và các đơn vị tư vấn có cơ sở điều chỉnh dự toán, hạn chế rủi ro phát sinh.
Song song với đó, việc quy hoạch và khai thác nguồn vật liệu phải được tổ chức khoa học hơn. Nhiều dự án hạ tầng lớn thường phải vận chuyển vật liệu từ khoảng cách xa, làm tăng chi phí và gây áp lực lên chuỗi cung ứng. Vì vậy, việc rà soát quy hoạch mỏ, đẩy nhanh cấp phép khai thác ở những khu vực có trữ lượng phù hợp sẽ góp phần ổn định nguồn cung, giảm áp lực tăng giá.
Tuy nhiên, quản lý chặt chẽ không đồng nghĩa với việc siết chặt quá mức. Thị trường vật liệu xây dựng cần được vận hành linh hoạt, phù hợp với quy luật cung – cầu. Các cơ chế điều chỉnh giá trong hợp đồng xây dựng cũng cần được áp dụng hợp lý để chia sẻ rủi ro giữa chủ đầu tư và nhà thầu, tránh tình trạng nhà thầu buộc phải thi công trong điều kiện thua lỗ, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ công trình.
Một hướng đi bền vững hơn, cần được thúc đẩy mạnh mẽ, là phát triển và sử dụng các loại vật liệu xanh, vật liệu thay thế. Trên thế giới, nhiều quốc gia đã đẩy mạnh ứng dụng vật liệu tái chế, bê tông ít phát thải, cát nhân tạo hay các sản phẩm vật liệu mới thân thiện với môi trường. Đây không chỉ là giải pháp giảm áp lực lên nguồn tài nguyên tự nhiên, mà còn góp phần ổn định thị trường vật liệu trong dài hạn.
Ở Việt Nam, một số loại vật liệu thay thế như cát nghiền, tro xỉ nhiệt điện, vật liệu tái chế từ phế thải xây dựng đã được nghiên cứu và ứng dụng.
Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế vẫn còn hạn chế do tâm lý e ngại, thiếu tiêu chuẩn kỹ thuật đồng bộ, cũng như cơ chế khuyến khích chưa đủ mạnh. Nếu được thúc đẩy đúng hướng, đây có thể trở thành nguồn vật liệu quan trọng, giảm phụ thuộc vào các loại tài nguyên đang dần khan hiếm.
Kiểm soát tốt nguồn cung, minh bạch thông tin giá, hoàn thiện cơ chế điều hành thị trường, đồng thời thúc đẩy vật liệu xanh và vật liệu thay thế – đó chính là những giải pháp then chốt để bảo đảm các công trình trọng điểm được triển khai đúng tiến độ và phát huy hiệu quả đầu tư.
Khi vật liệu được quản lý hợp lý, mỗi công trình hạ tầng không chỉ là một dự án xây dựng, mà còn là nền móng cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Quách Đồng/VOV Giao thông
Nguồn VOV : https://vov.vn/kinh-te/gia-vat-lieu-tang-cao-ap-luc-doi-von-cac-du-an-giao-thong-trong-diem-post1276024.vov