Giai đoạn 2026-2030, phấn đấu tăng trưởng bình quân 10%/năm trở lên

Giai đoạn 2026-2030, phấn đấu tăng trưởng bình quân 10%/năm trở lên
2 giờ trướcBài gốc
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi trình bày dự thảo Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm giai đoạn 2026-2030 trước khi Quốc hội biểu quyết thông qua. (Ảnh: DUY LINH)
Sáng 24/4, trong phiên bế mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội tiến hành biểu quyết thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm giai đoạn 2026-2030. Kết quả, có 494/494 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, bằng 100% đại biểu có mặt và 98,90% tổng số đại biểu Quốc hội.
Về mục tiêu tổng quát, Nghị quyết nhấn mạnh việc phát triển nhanh, bền vững đất nước; phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân. Thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới.
Tạo lập thể chế phát triển hiện đại, bền vững; mạng lưới kết cấu hạ tầng đồng bộ; nâng cao tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực; phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và con người Việt Nam; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; xã hội dân chủ, công bằng, kỷ cương, an toàn; quốc phòng, an ninh được bảo đảm; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên.
Ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước làm kênh huy động vốn dài hạn
Để hiện thực hóa mục tiêu trên, Nghị quyết xác định rõ 11 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu, trong đó nhấn mạnh việc chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" gắn với xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế-kỹ thuật và tăng cường kiểm tra, giám sát.
Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, xây dựng tiêu chí đánh giá văn bản pháp luật sau khi ban hành, bảo đảm chuyển tư duy đánh giá hiệu quả pháp luật từ "tốt trong văn bản" sang "tốt trong cuộc sống".
Khẩn trương tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; chuẩn hóa, số hóa toàn bộ quy trình giải quyết thủ tục trên môi trường số, liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan. Phấn đấu môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028.
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới lấy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Tạo đột phá phát triển các thành phần kinh tế gắn với triển khai hiệu quả các nghị quyết của Bộ Chính trị. Chú trọng phát triển các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp lớn có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu.
Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư nước ngoài; đổi mới chính sách thu hút FDI theo hướng chuyển từ trọng tâm ưu đãi thuế sang các chính sách ưu đãi khác, áp dụng ưu đãi sau - ưu đãi theo kết quả; chú trọng thúc đẩy chuyển giao công nghệ, kết nối giữa khu vực FDI với khu vực trong nước; đầu tư hiệu quả ra nước ngoài.
Ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước làm kênh huy động vốn dài hạn, giảm sự phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng. Ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do trong việc thu hút các dòng vốn đầu tư gián tiếp, các quỹ đầu tư quốc tế.
Khẩn trương hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, tháo gỡ dứt điểm các nút thắt, rào cản trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với kết quả đầu ra và chấp nhận rủi ro có kiểm soát. Ưu tiên tiếp thu, chuyển giao, ứng dụng sáng tạo, làm chủ các công nghệ nền tảng, công nghệ tiên tiến, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, công nghệ nguồn, công nghệ số.
Đến năm 2030, đưa vào sử dụng trên 5.000km đường bộ cao tốc
Nhiệm vụ và giải pháp nữa là tập trung đầu tư các tuyến đường bộ cao tốc theo quy hoạch, các cảng biển cửa ngõ kết hợp trung chuyển quốc tế, các cảng hàng không lớn, tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục bắc-nam, các tuyến đường sắt kết nối quốc tế, đường sắt đô thị; đến năm 2030 đưa vào sử dụng trên 5.000km đường bộ cao tốc.
Khai thác hiệu quả không gian tầm thấp, không gian ngầm. Rà soát, thống kê, phân loại tổng thể các dự án tồn đọng (kể cả các dự án trong và ngoài ngân sách), quyết liệt xử lý dứt điểm, đồng thời báo cáo cấp có thẩm quyền về vướng mắc và sớm đề xuất phương án xử lý.
Xử lý cơ bản ô nhiễm không khí, tắc nghẽn giao thông, ngập úng tại một số thành phố lớn như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh... Cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường ở các đô thị, cụm công nghiệp, làng nghề, lưu vực sông và khu vực nông thôn.
Các nhóm nhiệm vụ và giải pháp khác là xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân, nâng cao chất lượng đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài; quản lý phát triển xã hội bền vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống nhân dân...
Quốc hội giao Chính phủ, chính quyền địa phương các cấp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, xây dựng chương trình hành động của nhiệm kỳ, kế hoạch cụ thể cho từng năm và tổ chức thực hiện thành công Nghị quyết này.
Trong năm 2026, Chính phủ tập trung triển khai quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp được nêu tại Phụ lục III kèm theo Nghị quyết ; cuối năm 2028 báo cáo Quốc hội kết quả thực hiện Nghị quyết giữa nhiệm kỳ; chủ động ứng phó kịp thời, hiệu quả khi có biến động và báo cáo cấp có thẩm quyền trong trường hợp vượt thẩm quyền.
VĂN TOẢN
Nguồn Nhân Dân : https://nhandan.vn/giai-doan-2026-2030-phan-dau-tang-truong-binh-quan-10nam-tro-len-post958094.html