Sau hơn 10 năm miệt mài nghiên cứu các tài liệu lịch sử và kỹ thuật quân sự thế giới, kỹ sư Vũ Đình Thanh, chuyên gia kỹ thuật, đại diện của NPO ALMAZ Nga, người được biết đến với việc phục dựng thành công nỏ thần An Dương Vương đã công bố những phát hiện mới đầy bất ngờ về vai trò của tài nguyên Việt Nam trong lịch sử toàn cầu.
Theo các phân tích của ông, nguồn diêm tiêu (thành phần chính của thuốc súng) từ các hang động tại Việt Nam có thể chính là "mạch máu" quyết định sự trỗi dậy và sụp đổ của đế chế Napoleon. Khi không duy trì được nguồn cung diêm tiêu từ Việt Nam, Napoleon đã thất bại, mất ngôi và bị lưu đày.
Theo nhật ký hành trình, soái hạm Medusa do đô đốc đế chế Rosily từng chỉ huy bị Đại Việt thời Tây Sơn bắn hỏng. Nguồn minh họa: VĐT.
Tại sao châu Âu "khao khát" tài nguyên nhiệt đới?
Trò chuyện với PV Tri thức và Cuộc sống, kỹ sư Vũ Đình Thanh cho hay, nghiên cứu của ông đã tìm ra những bằng chứng mà bất kỳ ai cũng có thể kiểm chứng xác minh.
Trước hết, diêm tiêu giữ vai trò rất quan trọng trong kỹ thuật quân sự thời bấy giờ. Đây là thành phần chính của thuốc súng đen, chiếm khoảng 75% tổng khối lượng (loại ở Anh cho đến năm 1891 và ở Pháp đến năm 1886). Nhờ đó, diêm tiêu gần như không thể thay thế trong việc tạo ra sức nổ cho súng và pháo.
Tàu Mỹ bốc diêm tiêu từ Hà Tiên (cũ), Việt Nam mang về Pháp. Nguồn: VĐT.
Về mặt khoa học, diêm tiêu thực chất được tạo ra bởi hai nhóm vi khuẩn. Việt Nam là môi trường lý tưởng nhất cho các loại vi khuẩn này vì chúng hoạt động mạnh nhất ở khí hậu nóng ẩm. Ngược lại, ở môi trường dưới 10 độ C, các loại vi khuẩn này sẽ rơi vào trạng thái ngủ đông hoặc chết.
“Đây chính là lý do khiến mọi cố gắng ủ phân để tạo diêm tiêu nhân tạo tại châu Âu đều thất bại vì giới hạn nhiệt độ khắc nghiệt”, ông Thanh phân tích.
Chính vì sự thiếu hụt tự nhiên này, theo ông Thanh, các cường quốc châu Âu bắt buộc phải tìm kiếm nguồn diêm tiêu từ những vùng nóng ẩm để duy trì sức mạnh quân sự. Và loại diêm tiêu tốt nhất không phải là loại cào trên mặt đất mà là diêm tiêu từ phân dơi trong các hang động đá vôi, vốn cực kỳ dồi dào tại Việt Nam. Giá trị của nguồn tài nguyên này thời đó là vô cùng đắt đỏ: 1kg diêm tiêu có giá trị bằng nửa đơn vị vàng.
Một thực tế ít được biết đến là ngay cả khi đã phát minh ra thuốc súng không khói mạnh hơn như Poudre B (Pháp) hay Cordite (Anh), hai quốc gia này vẫn phụ thuộc vào nguồn diêm tiêu tự nhiên (từ phân dơi, phân chim) đến tận khoảng năm 1930, trước khi làm chủ công nghệ tổng hợp nitrat theo quy trình Haber–Bosch.
Sách của John Barrow nói về nhà máy diêm tiêu ở Fen – Tan ( Tsiompa of the charts có thể là Bình Thuận).
Kỹ sư Vũ Đình Thanh cho hay, nhiều ghi chép lịch sử cho thấy Đại Việt từng sở hữu nguồn diêm tiêu dồi dào và kỹ thuật chế tạo thuốc súng phát triển sớm. Chẳng hạn, linh mục Alexandre de Rhodes trong tác phẩm “Histoire du Royaume de Tunquin” (1651) mô tả số lượng súng hỏa mai tại đây “nhiều chưa từng thấy” ở châu Âu.
Các tài liệu của Samuel Baron và Cristoforo Borri (thuộc nhóm ghi chép của các giáo sĩ và thương nhân châu Âu về Việt Nam thế kỷ XVII–XVIII) cũng xác nhận người Việt đã làm chủ kỹ thuật này, nhờ nguồn nguyên liệu phong phú từ hang động đá vôi.
Diêm tiêu Việt Nam: Mắt xích trong ưu thế quân sự của Napoleon
Dựa trên các phân tích hóa học và tài liệu pháo binh Pháp thời Napoleon, KS Vũ Đình Thanh đưa ra một nhận định quan trọng: Pháo binh của Napoleon trong giai đoạn đầu luôn chiến thắng không chỉ nhờ tài dụng binh mà còn nhờ chất lượng thuốc súng vượt trội. Ông chỉ ra rằng, thuốc nổ của Napoleon thời kỳ này mạnh hơn, ít khói và đặc biệt là không bị "xịt" (mất lửa) như quân đội đối phương.
Pháo Cannon de 4 Gribeauval trong bảo tàng pháo quan trọng của pháo binh Pháp thời Napoleon, có khả năng bắn xa, không bị xịt nhờ diêm tiêu. Nguồn: VĐT.
Nguyên nhân được ông Thanh giải thích là do nguồn diêm tiêu hang động từ Việt Nam (được khai thác tại Hà Tiên, Thất Sơn, Ninh Bình...) có chứa các hợp chất phốt pho tự nhiên. Khi cháy ở nhiệt độ cao (khoảng 1000 độ C), phốt pho không chỉ tăng sức mạnh vụ nổ mà còn có tác dụng làm sạch nòng pháo. Điều này cho phép pháo binh Napoleon bắn liên tục hàng chục phát mà không cần dừng lại thông nòng nhiều lần như đối thủ.
Kết quả là, tầm bắn của pháo Pháp có thể xa hơn từ 100 đến 200m so với pháo của Anh hay các nước châu Âu khác, đây là khoảng cách mang tính quyết định sinh tử. Ngược lại, nguồn diêm tiêu từ vùng Bengal (Ấn Độ) mà người Anh độc quyền thường chứa nhiều muối, dễ bị ẩm và không có độ tinh khiết cao bằng diêm tiêu hang động Việt Nam. Ông Thanh cho rằng, các chiến thắng hủy diệt tại Austerlitz (1805) hay Wagram (1809) của Napoleon đều mang đậm dấu ấn của nguồn hậu cần chiến lược này.
Đặc biệt, kỹ sư Vũ Đình Thanh có một bằng chứng vô cùng quan trọng, đó là từ luận án tiến sĩ tại Pháp cùng các tài liệu ở Anh và Mỹ cho thấy, “Saltpetre des Indes”, diêm tiêu từ khu vực Đông Dương đã được vận chuyển với quy mô lớn để phục vụ Pháp. Đáng chú ý, việc Anh bắt giữ các tàu Mỹ chở loại diêm tiêu này được cho là một trong những nguyên nhân dẫn tới Chiến tranh Anh – Mỹ.
Từ những bằng chứng trên, kỹ sư Vũ Đình Thanh cho rằng, việc Napoleon sử dụng nguồn diêm tiêu từ Việt Nam là khá rõ ràng, và nguồn cung này nhiều khả năng bắt nguồn từ Hiệp ước Versailles năm 1787.
Hiệp ước 1787: Bước đi chiến lược của thực dân Pháp tại Đông Dương
Một trong những điểm gây tranh cãi nhất trong lịch sử là tính thực thi của Hiệp ước Versailles 1787 ký giữa thực dân Pháp và Nguyễn Ánh. Trái với quan điểm của nhiều nhà sử học cho rằng hiệp ước này bị hủy bỏ do Cách mạng Pháp, KS Vũ Đình Thanh cho rằng, nó đã được thực hiện một cách triệt để và hiệu quả nhất.
Nội dung hiệp ước Versailles từ sách của John Barrow. Nguồn: VĐT.
Theo ông Thanh, dưới danh nghĩa hỗ trợ Nguyễn Ánh, thực chất triều đình thực dân Pháp nhắm tới việc kiểm soát nguồn tài nguyên diêm tiêu khổng lồ tại Đông Dương. Các nhân vật như Bá Đa Lộc, với tư cách là "Khâm sai Hoàng gia" (Commissaire Royal), đã huy động một lực lượng quân sự đáng kể để thực hiện các cam kết, trong đó có việc thiết lập đường dây chuyển diêm tiêu về Pháp.
Giới sử học dòng chính thời thuộc địa và giai đoạn sau này thường hạ thấp quy mô can thiệp của Pháp vào Đại Việt cuối thế kỷ 18. Họ lập luận rằng do Cách mạng Pháp nổ ra, triều đình Versailles đã hủy bỏ cam kết, khiến phái bộ Bá Đa Lộc chỉ mang về được một nhóm vỏn vẹn 120 lính đánh thuê rệu rã.
Tuy nhiên, khi soi chiếu dưới lăng kính của hậu cần quân sự, toán học hàng hải và biên niên sử toàn cầu, con số "120 người" lộ rõ là một sự ngụy tạo lịch sử nhằm che giấu một chiến dịch quân sự quy mô lớn và sự thất bại thảm hại của lực lượng này trước hỏa lực Tây Sơn.
Thứ nhất, theo lập luận của KS Thanh, con số “120 người” (kể cả sĩ quan) là phi lý về mặt vận hành. Một chiến hạm frigate như Méduse, mang 30–40 khẩu pháo, cần 6–8 pháo thủ cho mỗi khẩu—tức riêng đội pháo đã từ 180 đến 250 người. Chưa kể thủy thủ, lính thủy đánh bộ, kỹ sư, quân y… Tổng biên chế tối thiểu phải từ 250–360 người cho một tàu. Với hạm đội 4–5 chiếc, phép tính đơn giản cho thấy quy mô lực lượng phải lên tới hàng nghìn người, không thể là 120.
Minh họa chiến hạm Medusa do Rosily chỉ huy cần ít nhất 360 thủy thủ đoàn để vận hành con tàu đi được ra biển lớn. Nguồn: VĐT.
Thứ hai, lập luận “Cách mạng Pháp làm gián đoạn chuyến đi” không đứng vững. Hạm đội rời Pondichéry tháng 6/1789, trong khi sự kiện Bastille diễn ra tháng 7/1789. Trong điều kiện thông tin thời đó, tin tức không thể truyền ra biển ngay lập tức. Khi cập bến Vũng Tàu ngày 24/7/1789, lực lượng viễn chinh đã hoàn chỉnh về tổ chức; biến động ở châu Âu không thể khiến hàng nghìn quân “biến mất” thành 120 người.
Thứ ba, một hạm đội hải quân là hệ thống kỷ luật khép kín, vận hành theo mệnh lệnh, không phải không gian cho tranh luận chính trị. Thời điểm này, vua Louis XVI vẫn là tổng tư lệnh hợp hiến cho tới 10/8/1792 , nên lực lượng viễn chinh mang đầy đủ tính chính danh. Đây là một đạo quân chuyên nghiệp, thực thi kế hoạch đã được phê chuẩn từ năm 1787—một “việc đã rồi”, không thể bị đảo ngược bởi biến động chính trị từ xa .
Từ những phân tích, ông Thanh nhận định, việc hạ thấp con số binh lính có thể là một thủ pháp bóp méo lịch sử nhằm che giấu thất bại của đạo quân viễn chinh này trước hỏa lực của quân Tây Sơn.
Pháo binh cơ động của Napoleon khi bị cắt nguồn diêm tiêu chất lượng cao từ Việt Nam năm 1811 bắt đầu trở nên lép vế trước pháo binh Anh. Nguồn: VĐT.
Sự gắn kết chặt chẽ giữa nguồn diêm tiêu Việt Nam và vận mệnh của Napoleon còn được ông Thanh chỉ ra qua mốc thời gian sụp đổ của đế chế. Ngay sau khi đế quốc Anh chiếm được các căn cứ trung chuyển như Mauritius (1810) và Java (1811), tuyến cung ứng diêm tiêu từ Đông Dương bị cắt đứt hoàn toàn.
Kể từ thời điểm đó, chất lượng thuốc súng của thực dân Pháp suy giảm rõ rệt. Trong chiến dịch Nga năm 1812 và đặc biệt là trận Waterloo (1815), pháo binh Pháp vốn từng là nỗi khiếp sợ của cả châu Âu đã hoàn toàn lép vế trước pháo binh Anh về cả tầm bắn và tốc độ bắn. Theo KS Vũ Đình Thanh, Napoleon mất ngôi vua một phần chính là vì không còn giữ được nguồn "hỏa lực" từ phương Đông này.
Đô đốc đế chế Rosily được khắc tên trên Khải Hoàn Môn nhờ công cung cấp diêm tiêu hang động chất lượng cao từ Việt Nam cho Pháp thời Napoleon. Nguồn: VĐT.
KS Vũ Đình Thanh khẳng định, việc nhìn lại lịch sử dưới góc độ khoa học quân sự không chỉ giúp chúng ta hiểu đúng về giá trị của tài nguyên đất nước mà còn là sự tri ân đối với các thế hệ cha ông đã hy sinh để giữ vững nền độc lập.
Theo KS Vũ Đình Thanh, nghiên cứu của ông cùng các quan điểm vẫn cần thêm sự thẩm định và tranh luận từ giới sử học chính thống, nhưng có thể mở ra một hướng nghiên cứu mới về vị thế của Việt Nam trong dòng chảy lịch sử quân sự thế giới.
KS Vũ Đình Thanh cho biết, dựa trên các sử liệu như cuốn "A voyage in Cochinchina" (1806) của John Barrow, quy mô quân đội Pháp do Bá Đa Lộc huy động giai đoạn 1789 - 1792 lên tới 20 thuyền chiến cùng khoảng 1 vạn quân tinh nhuệ. Đây là lực lượng quân sự có trang bị mạnh nhất thế giới thời bấy giờ, vẫn thuộc quyền chỉ huy tối cao của vua Pháp trước khi ông bị phế truất vào năm 1792.
Theo ông Thanh, nhà Tây Sơn đã phải trải qua cuộc chiến vệ quốc vô cùng cam go chống lại đội quân bảo hoàng này. Việc đẩy lùi sự can thiệp của Pháp trong giai đoạn 1789 - 1792 đã giúp giữ vững nền độc lập cho Việt Nam thêm 69 năm (trước khi Pháp nổ súng xâm lược năm 1858). Ông Thanh bày tỏ lo ngại rằng công lao và xương máu của những anh hùng như Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Trần Quang Diệu... trong cuộc chiến này dường như chưa được ghi nhận đúng.
Mai Loan