Giải pháp nào kiểm soát dịch bệnh tôm trong điều kiện mới?

Giải pháp nào kiểm soát dịch bệnh tôm trong điều kiện mới?
một giờ trướcBài gốc
Tại sự kiện, các chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp cùng thảo luận, trao đổi tìm ra lời giải cho bài toán dịch bệnh đang đe dọa sinh kế của hàng triệu hộ nuôi và kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam.
Ngành nuôi tôm Việt Nam trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, đóng góp quan trọng vào nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tế sản xuất đang đối mặt với những thách thức mang tính hệ thống và phức tạp hơn, đặc biệt là các loại dịch bệnh nguy hiểm.
Ông Tạ Văn Hùng, một người nuôi tôm có 15 năm kinh nghiệm tại xã Vĩnh Hải, TP. Cần Thơ, cho biết khó khăn lớn nhất hiện nay là các loại bệnh như: vi bào tử trùng (EHP), đốm trắng và đỏ thân. Đây là những tác nhân chính gây ra tình trạng thua lỗ nặng nề cho người nông dân trong suốt thời gian qua.
Theo Giáo sư Vũ Văn Út, Hiệu trưởng Trường Thủy sản (Đại học Cần Thơ), trình bày tại hội nghị. Ảnh: Thu Hiền - TTXVN
Giáo sư Vũ Văn Út, Hiệu trưởng Trường Thủy sản (Đại học Cần Thơ), nhận định các bệnh như: hoại tử gan tụy cấp, đốm trắng và đặc biệt là bệnh vi bào tử trùng (EHP) không chỉ gây thiệt hại kinh tế tức thời mà còn làm suy giảm hiệu quả sản xuất một cách âm thầm nhưng kéo dài. Đáng chú ý, mầm bệnh hiện nay liên quan chặt chẽ đến biến động môi trường dưới tác động của biến đổi khí hậu. Sự thay đổi về nhiệt độ, độ mặn, pH và chất lượng nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát triển, đồng thời làm suy giảm sức đề kháng tự nhiên của tôm.
Trước thực trạng này, các chuyên gia nhận định cách tiếp cận trong nuôi tôm cần có sự chuyển đổi mạnh mẽ: từ “phản ứng bị động” sang “phòng ngừa chủ động” và từ “tăng trưởng bằng mọi giá” sang “phát triển bền vững dựa trên cân bằng sinh thái”.
Ông Trịnh Trung Phi, Phó Tổng Giám đốc kỹ thuật và tôm thương phẩm (Tập đoàn Việt Úc), phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Thu Hiền - TTXVN
Ở góc độ doanh nghiệp nuôi tôm, ông Trịnh Trung Phi, Phó Tổng Giám đốc kỹ thuật và tôm thương phẩm (Tập đoàn Việt Úc) nhận định, nuôi tôm càng ngày càng khó. Thay vì trở thành chuyên gia xử lý khi bệnh đã xảy ra, người nuôi cần quản trị rủi ro ngay từ khâu đầu tiên. Người nuôi cần thực hiện đúng quy trình ngay từ đầu, từ khâu chọn tôm bố mẹ, con giống cho đến việc thiết lập hệ thống an toàn sinh học và khả năng phát hiện bệnh sớm.
Theo đại diện Tập đoàn Việt Úc, nguồn nước nuôi tôm hiện nay không còn được như trước, mầm bệnh luôn hiện hữu và vi khuẩn có thể tái xuất hiện chỉ sau vài ngày ngay cả khi đã xử lý clo kỹ lưỡng. Vì thế, việc quản lý môi trường cũng được nâng lên tầm cao mới.
Thay vì sử dụng Chlorine truyền thống, sử dụng công nghệ kết hợp hóa học đã được ứng dụng để xử lý nước. Giải pháp này không chỉ nâng cao khả năng sát trùng, loại bỏ chất hữu cơ và kim loại nặng mà còn giúp giảm chi phí xử lý nước từ mức 3.000 - 4.000 đồng/m³ xuống chỉ còn 800 - 900 đồng/m³.
Một trong những chiến lược đột phá mà doanh nghiệp này thực hiện là chủ động giảm mật độ nuôi từ mức siêu thâm canh (300-400 con/m2) xuống còn 200-250 con/m2 để đạt được sự ổn định tối ưu.
Quang cảnh hội nghị. Ảnh: Thu Hiền - TTXVN
Theo ông Trịnh Trung Phi, vai trò của con giống được ví như “nền móng của ngôi nhà”, quyết định đến 40% sự thành bại của vụ nuôi dù chi phí đầu tư chưa tới 10% tổng ngân sách. Con giống chất lượng, sạch bệnh và có khả năng truy xuất nguồn gốc giúp tôm tăng trưởng nhanh, đạt đầu con và giảm thiểu rủi ro từ các dịch bệnh nguy hiểm như TPD (bệnh tôm mờ đục) hay EHP (vi bào tử trùng).
Hiện nay, với nguồn giống tốt, tôm có thể đạt kích cỡ 60 con/kg chỉ sau 60 ngày nuôi, với tỷ lệ sống trên 80% và hệ số thức ăn (FCR) tối ưu ở mức 1.2 - 1.3. Việc rút ngắn thời gian nuôi chính là chìa khóa để giảm giá thành và nâng cao vị thế cạnh tranh của ngành tôm Việt Nam.
Một số bệnh trên tôm - nguyên nhân gây thiệt hại nặng cho người nuôi thời gian qua. Ảnh: Thu Hiền - TTXVN
Song song với con giống, vấn đề dinh dưỡng và an toàn sinh học cũng được chú trọng. Theo Tiến sĩ Lê Thị Hải Yến, Phó Giám đốc Trung tâm R&D (Công ty Vemedim), trong nuôi tôm an toàn sinh học, việc sử dụng chế phẩm sinh học (probiotics) đóng vai trò then chốt nhằm thay thế kháng sinh và tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi. Các nhóm vi sinh phổ biến hiện nay bao gồm nhóm vi khuẩn tạo bào tử như Bacillus với ưu điểm bền nhiệt, hoạt động tốt trong môi trường khắc nghiệt để ức chế vi khuẩn có hại.
Bên cạnh đó, nhóm vi khuẩn lactic giúp hỗ trợ tiêu hóa và hấp thụ dưỡng chất trong đường ruột, trong khi nhóm vi sinh quang dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc xử lý khí độc trong ao nuôi.
Chế phẩm vi sinh học được các chuyên gia đánh giá là một trong những giải pháp an toàn, hiệu quả thay thế cho kháng sinh và tăng cường sức đề kháng cho tôm nuôi. Ảnh: Thu Hiền - TTXVN
Ông Lê Thành Cường (Đại học Nha Trang) khuyến cáo người nuôi nên sử dụng chế phẩm sinh học liều cao định kỳ để ức chế vi khuẩn Vibrio thay vì dùng thuốc tùy tiện. Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp vi khuẩn đã nhờn thuốc, dẫn đến việc tôm vẫn chết dù đã được cho ăn kháng sinh. Do đó, việc thực hiện kháng sinh đồ để lựa chọn loại thuốc điều trị chính xác khi thực sự cần thiết là vô cùng quan trọng.
Để phát triển bền vững nghề nuôi tôm, GS.TS Trương Quốc Phú (Đại học Cần Thơ) đề xuất phương pháp phòng bệnh tổng hợp dựa trên bốn khâu then chốt: nước sạch, giống tốt, dinh dưỡng đầy đủ và chăm sóc quản lý khoa học; đồng thời, nhấn mạnh việc thay đổi tư duy quản lý nước thải. Thay vì xả thải trực tiếp gây lây lan mầm bệnh ra sông rạch, người nuôi cần ứng dụng các biện pháp xử lý sinh học để tái sử dụng nước hoặc đảm bảo an toàn trước khi thải bỏ. Việc sử dụng thực vật thủy sinh và các nhóm vi khuẩn có lợi để phân hủy chất thải được xem là giải pháp thân thiện, hiệu quả và tiết kiệm nhất.
Thu Hiền/vnanet.vn
Nguồn Bnews : https://bnews.vn/giai-phap-nao-kiem-soat-dich-benh-tom-trong-dieu-kien-moi/419918.html