'Giáo dục số' với 2 gam màu sáng, tối đan xen

'Giáo dục số' với 2 gam màu sáng, tối đan xen
6 giờ trướcBài gốc
Giáo viên, học sinh Trường THCS Hoàng Diệu (phường Lê Chân, Hải Phòng) sử dụng thiết bị công nghệ phục vụ việc dạy và học.
Những chuyển biến tích cực
Việc ứng dụng công nghệ vào quản lý, giảng dạy và học tập đã giúp hệ thống giáo dục Việt Nam có bước tiến nhanh về tính minh bạch, hiệu quả và khả năng kết nối. Nhiều cơ sở giáo dục hiện nay đã được trang bị thiết bị công nghệ, các phần mềm quản lý trường học. Việc ứng dụng các hệ thống này góp phần giảm tải thủ tục hành chính, số hóa quy trình quản lý và giúp việc theo dõi, báo cáo trở nên nhanh chóng, minh bạch và chính xác hơn.
Đại dịch COVID-19 buộc toàn ngành Giáo dục phải chuyển sang dạy học trực tuyến thay vì phương thức trực tiếp như truyền thống. Điều này gây khó khăn ban đầu nhưng cũng giúp giáo dục Việt Nam bước vào mô hình dạy học kết hợp.
Các nền tảng Zoom, Microsoft Teams, Google Classroom… trở nên quen thuộc với giáo viên và học sinh. Nhiều địa phương đã đầu tư phòng thu bài giảng, kho học liệu chung và hỗ trợ giáo viên sản xuất bài giảng E-learning theo chuẩn kỹ thuật. Nhờ đó, phương pháp dạy học truyền thống được bổ sung bằng các công cụ số, góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy và đa dạng phương pháp tương tác với học sinh.
Nhiều trường học đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ vào quản lý, giảng dạy và học tập.
Giáo dục số ở Việt Nam không thể thiếu sự phát triển của các hệ sinh thái học liệu số. Những nền tảng này cung cấp kho học liệu phong phú, từ sách giáo khoa điện tử đến video minh họa và bài giảng tương tác. Việc số hóa học liệu cho phép học sinh chủ động hơn trong học tập, tiếp cận kiến thức mọi lúc, mọi nơi và theo tốc độ phù hợp với năng lực cá nhân.
Nhìn lại chặng đường đã qua của ngành Giáo dục, TS Lê Đức Thuận, nguyên Trưởng phòng GD-ĐT quận Ba Đình (cũ), Hà Nội đánh giá: "Giáo dục số" của Việt Nam thời gian qua giống như một bức tranh với hai gam màu sáng, tối đan xen. Thời gian gần đây, gam màu sáng đang dần chủ đạo nhờ nhận thức đúng đắn và quyết tâm cao độ từ cấp vĩ mô".
Về thành tựu, TS Lê Đức Thuận cho rằng, ngành Giáo dục đã có được bước chuyển mình quan trọng nhất là về nhận thức khi Bộ Chính trị xác định Giáo dục và đào tạo cùng với Khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu. Trong đó, chuyển đổi số là động lực chính đã tạo ra làn sóng lan tỏa mạnh mẽ. Việt Nam thuộc nhóm 21 quốc gia sớm đạt mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc về giáo dục chất lượng và bước đầu xây dựng được nền tảng cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục.
Tín hiệu vui đến từ mô hình trường học thông minh
Trong những năm gần đây, ở Việt Nam, một số địa phương đã triển khai mô hình trường học thông minh đặt nền móng và mở ra xu hướng phát triển của "giáo dục số". Tại TP Hải Phòng, mới đây, Trường THCS Hoàng Diệu (phường Lê Chân) chính thức đưa vào hoạt động "phòng học thông minh, tương tác đa phương tiện". Năm học 2024–2025, nhà trường cũng được trang bị thêm hai phòng học thông minh với hệ thống tivi tương tác và iPad hiện đại.
Không chỉ dừng ở đầu tư thiết bị, nhà trường chú trọng đào tạo năng lực sử dụng công nghệ cho giáo viên. Các lớp tập huấn được tổ chức ngay trong hè, hướng dẫn thầy cô cách vận hành thiết bị, tổ chức lớp học thông minh và ứng dụng vào từng môn học. Nhờ đó, việc dạy và học trở nên sinh động, tạo cảm hứng và phát huy tính chủ động của học sinh.
Song song với đó, theo lãnh đạo nhà trường, các hoạt động quản lý cũng được số hóa từ hồ sơ học sinh, hồ sơ giáo viên đến sổ sách chuyên môn. Thông tin chỉ đạo, kế hoạch, thông báo được truyền tải nhanh chóng qua các nền tảng số. Công nghệ còn được ứng dụng trong câu lạc bộ ngoại ngữ, kỹ năng sống, giúp việc giảng dạy trở nên hấp dẫn hơn.
Học sinh Trường THCS Hoàng Diệu sử dụng thiết bị điện tử trong quá trình học tập.
Tại TP Hà Nội, mô hình "Trường học thông minh" được triển khai tại Trường Tiểu học Thủ Lệ (phường Giảng Võ) cũng mang đến một "làn gió mới" trong việc dạy và học. Cùng với việc trang bị cơ sở vật chất hiện đại, các giáo viên nhà trường cũng được các chuyên gia, các hãng công nghệ tổ chức tập huấn việc sử dụng các thiết bị, ứng dụng trong giảng dạy, quản lý học sinh. Qua đó, nâng cao trình độ của giáo viên trong ứng dụng công nghệ vào hoạt động chuyên môn của nhà trường.
Với mô hình mới, các thiết bị kỹ thuật số hiện đại đã giúp giáo viên sử dụng triệt để nguồn học liệu phong phú, các ứng dụng, phần mềm giảng dạy, học tập tương thích nhiều dạng câu hỏi, cách thể hiện. Qua đó, học sinh không bị áp lực nặng nề là mình đang phải học, phải làm bài tập, mà cảm thấy rất hào hứng, chủ động chiếm lĩnh tri thức.
Đẩy mạnh chuyển đổi số trong Giáo dục
Mặc dù đã đạt những thành tựu đáng ghi nhận, nhưng theo TS Lê Đức Thuận, giáo dục số tại Việt Nam vẫn trong tình trạng phát triển chưa đồng bộ và còn manh mún. Cơ sở hạ tầng số, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều khó khăn, tạo ra sự chênh lệch lớn trong cơ hội tiếp cận. Việc ứng dụng công nghệ trong dạy học ở nhiều nơi vẫn dừng lại ở mức "trình chiếu" bề nổi hơn là chuyển đổi số thực chất để cá nhân hóa việc học. Đồng thời năng lực số của đội ngũ nhà giáo chưa đồng đều khi phần lớn vẫn phải tự mày mò học cách tích hợp công nghệ mới.
Đối chiếu với tinh thần của các Nghị quyết mới và thực tiễn quan sát, ông Thuận xác định ba "điểm nghẽn" đang kìm hãm sự phát triển của giáo dục số tại Việt Nam. Trong đó, rào cản lớn nhất nằm ở thể chế và tư duy quản lý. "Tư duy về quản lý giáo dục chậm đổi mới, vẫn còn nặng tâm lý "không quản được thì cấm" và thiếu các cơ chế thử nghiệm chính sách cho các mô hình giáo dục mới, khiến các trường học e ngại khi áp dụng cái mới", ông Thuận nêu quan điểm.
Rào cản thứ hai theo vị chuyên gia này đó là vấn đề năng lực con người, nơi đội ngũ nhà giáo đang chịu "gánh nặng kép" khi vừa phải đảm bảo chuyên môn, vừa phải tự xoay xở với công nghệ trong khi thiếu sự đào tạo bài bản về tư duy sư phạm số và chế độ đãi ngộ chưa tương xứng. Cuối cùng là rào cản về hạ tầng và dữ liệu, dù đã có nỗ lực nhưng hạ tầng số chưa đồng bộ và dữ liệu giáo dục còn phân tán, chưa thực sự trở thành "tư liệu sản xuất" để trí tuệ nhân tạo (AI) có thể phân tích và hỗ trợ ra quyết định hay cá nhân hóa lộ trình học tập như kỳ vọng.
TS Lê Đức Thuận, nguyên Trưởng phòng GD-ĐT quận Ba Đình (cũ), Hà Nội
Từ những phân tích trên, để "giáo dục số" của Việt Nam thực sự "cất cánh", TS Lê Đức Thuận cho rằng cần thực hiện đồng bộ ba nhóm giải pháp trọng tâm bám sát Nghị quyết 71 và 57. Trước hết là hoàn thiện hành lang pháp lý, khẩn trương ban hành các quy định hướng dẫn cụ thể về dạy học trên môi trường số, công nhận kết quả học tập trực tuyến và khung đạo đức AI trong giáo dục, chuyển hẳn tư duy quản lý sang "kiến tạo phát triển".
Tiếp đến là đầu tư hạ tầng số và dữ liệu quốc gia để xây dựng nền tảng giáo dục thống nhất, mở và học liệu số chất lượng cao nhằm thu hẹp khoảng cách số. Song song đó là nâng cao năng lực đội ngũ bằng việc sớm ban hành "khung năng lực số" quốc gia cho giáo viên và tổ chức đào tạo liên tục, bài bản.
"Trong các giải pháp này, tôi cho rằng, đột phá về thể chế gắn với dữ liệu là yếu tố quan trọng nhất. Sở dĩ như vậy vì thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước để "cởi trói" tư duy và cho phép các mô hình mới vận hành. Chỉ khi thể chế cho phép khai thác "dữ liệu lớn" trong giáo dục một cách minh bạch, chúng ta mới có thể chuyển từ nền giáo dục "đồng phục" sang nền giáo dục cá nhân hóa sâu sắc dựa trên AI, chìa khóa để nâng cao chất lượng thực chất và năng suất lao động.
Tôi đặt kỳ vọng lớn vào bức tranh giáo dục Việt Nam giai đoạn mới với ba điểm sáng mang tính chiến lược. Thứ nhất là việc phổ cập “trợ lý ảo” trong trường học, khi AI trở thành công cụ bình dân hóa giúp mỗi giáo viên có trợ lý hỗ trợ soạn bài, chấm điểm và mỗi học sinh có gia sư AI riêng, hiện thực hóa mục tiêu nâng cao năng lực công nghệ cho thế hệ trẻ. Thứ hai là sự thu hẹp đáng kể khoảng cách số, nơi học sinh vùng nông thôn, miền núi sẽ được tiếp cận nguồn học liệu chất lượng cao tương đương học sinh thành thị thông qua các nền tảng quốc gia, góp phần giảm chỉ số bất bình đẳng giáo dục xuống dưới 10%. Cuối cùng là sự thăng hạng về vị thế quốc tế, khi “giáo dục số” trở thành đòn bẩy đưa Việt Nam vào nhóm dẫn đầu Đông Nam Á về chuyển đổi số với hệ thống giáo dục đại học có các đại diện lọt vào nhóm hàng đầu châu Á, đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ”.
TS Lê Đức Thuận, nguyên Trưởng phòng GD-ĐT quận Ba Đình (cũ), Hà Nội.
Ngọc Ánh
Nguồn Phụ Nữ VN : https://phunuvietnam.vn/giao-duc-so-voi-2-gam-mau-sang-toi-dan-xen-238260130111942589.htm