Dành trọn cuộc đời cho nghiên cứu khoa học, giảng dạy và đào tạo nhiều thế hệ sinh viên, nghiên cứu sinh, GS Đàm Trung Đồn không chỉ góp phần đặt nền móng cho ngành bán dẫn trong nước mà còn đào tạo nhiều thế hệ học trò. Với ông, khoa học không chỉ là những công trình hay bài báo, mà quan trọng hơn là khả năng tạo ra giá trị cho thực tiễn và truyền lại tinh thần làm việc nghiêm túc, bền bỉ cho thế hệ sau. Ông là giảng viên Vật lý đầu tiên của Trường Đại học Tổng hợp (nay là Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội) được Nhà nước phong hàm GS và cũng là một “vị GS đặc biệt” vì không có bằng tiến sĩ.
GS Đàm Trung Đồn.
Tiếp chúng tôi trong căn hộ tập thể cũ trên phố Nguyên Hồng (Hà Nội), vị GS nhớ lại, vào khoảng những năm 1990–1991, ông là một trong những người đầu tiên chuyển về sinh sống tại khu nhà do cán bộ, giảng viên các trường đại học cùng góp tiền xây dựng. Sau hơn ba thập kỷ gắn bó, đến nay ông có lẽ là người cuối cùng của thế hệ ấy vẫn còn ở lại đây. Căn hộ nằm trên tầng 2 yên tĩnh, thoáng mát, với những món đồ mộc mạc đã nhuốm màu thời gian, lưu giữ trọn vẹn dấu ấn của một đời người gắn bó với khoa học và giáo dục.
Ấn tượng sâu sắc nhất với tôi là căn phòng làm việc rộng khoảng 20m². Trên những kệ sách xếp kín các tài liệu chuyên ngành, nhiều cuốn đã cũ theo năm tháng, là dấu tích của một quá trình miệt mài học hỏi và cống hiến. Bên cạnh đó là những thiết bị thí nghiệm tự chế, tuy không hiện đại nhưng phản ánh rõ sự sáng tạo và tâm huyết của một nhà khoa học luôn tìm cách vượt qua hạn chế về điều kiện nghiên cứu. Ở nơi đây, ông chuẩn bị các thí nghiệm phục vụ nghiên cứu, với những dụng cụ thô sơ nhưng được sáng tạo từ các vật dụng quen thuộc, nhằm phục vụ cho các kỳ thi Olympic Vật lý quốc tế (IPhO) và châu Á (APhO) mà Việt Nam đăng cai. Đồng thời, đây cũng là nơi ông trực tiếp giảng dạy học sinh năng khiếu vật lý, từ lý thuyết đến thực hành, trong đó có đội tuyển Olympic Vật lý Việt Nam trước khi các em tham dự APhO và IPhO.
Dù tuổi đã cao, ông vẫn giữ thói quen đọc sách, ghi chép và trao đổi học thuật mỗi ngày. Những câu chuyện của ông không chỉ dừng lại ở kiến thức chuyên môn mà còn là bài học về sự kiên trì, tinh thần tự học và trách nhiệm với khoa học nước nhà. Chính điều đó đã khiến căn phòng nhỏ ấy không chỉ là nơi làm việc, mà còn là nơi truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ học sinh, sinh viên và nhà nghiên cứu trẻ.
Câu chuyện bên tách trà nóng về những năm tháng miệt mài làm khoa học trong điều kiện còn nhiều thiếu thốn, về khát vọng xây dựng nền khoa học công nghệ nước nhà, cứ thế chậm rãi chảy theo thời gian, giản dị mà sâu lắng. Ở đó, không chỉ có ký ức của một đời người, mà còn là niềm tin bền bỉ vào con đường tri thức mà ông đã chọn và theo đuổi đến tận hôm nay.
PV: Nhiều đồng nghiệp và học trò vẫn nhắc đến ông như một người thầy, một nhà khoa học giản dị và khiêm nhường. Ông lý giải như thế nào về ấn tượng này? Điều gì đã hình thành nên phong cách sống và làm khoa học ấy của ông?
GS Đàm Trung Đồn: Tôi sinh ra trong một gia đình có truyền thống học hành. Là con thứ 19 trong số 20 anh chị em, giống như các anh chị của mình, tôi sớm ý thức được việc phải nỗ lực và chăm chỉ học tập. Sau khi ra trường, trở thành một trong số những giảng viên Vật lý đầu tiên của Trường Đại học Tổng hợp, tôi được khuyến khích lựa chọn hướng nghiên cứu mà mình yêu thích. Chính sự chủ động đó giúp tôi gắn bó với khoa học một cách tự nhiên và bền bỉ.
Hồi đó, phương tiện đi lại của tôi chỉ là một chiếc xe máy Honda mà mọi người hay gọi vui là “xe su hào”, thuộc loại cũ và đơn giản nhất. Trước đó nữa thì chủ yếu tôi đi xe đạp. Nhưng thực ra, tôi không quá quan tâm đến điều kiện vật chất.
Có một thời gian, tôi sang Pháp thực tập khoa học, được phong hàm phó giáo sư và hưởng mức lương khá cao. Tuy nhiên, phần lớn số tiền đó tôi gửi lại cho Đại sứ quán để góp vào quỹ ủng hộ kháng chiến. Bản thân tôi gần như không tiêu dùng gì cho riêng mình. Hai vợ chồng sống rất giản dị, không rượu bia, không thuốc lá, không cà phê, cũng không có nhu cầu hưởng thụ gì đặc biệt.
Đến khoảng những năm 1984–1985, khi xã hội bắt đầu chuyển biến, nhiều người tìm cách làm kinh tế, tôi cũng đi làm thêm một chút, chủ yếu để có khoản dự phòng cho gia đình và nuôi các con ăn học. Nhưng nhìn chung, chúng tôi vẫn giữ nếp sống đơn giản, không chạy theo vật chất, nên cũng không cảm thấy áp lực kinh tế.
Có lẽ chính cách sống ấy ảnh hưởng đến cả công việc khoa học của tôi. Tôi luôn nghĩ làm khoa học thì phải tập trung vào chuyên môn, không nên bị chi phối bởi những yếu tố bên ngoài. Cứ kiên trì, làm đến nơi đến chốn, không đặt nặng danh lợi.
GS Đàm Trung Đồn chụp ảnh cùng các cháu trong chuyến thăm Nhật Bản năm 2019.
Nhìn lại, ông có cho rằng mình may mắn khi các con đều trưởng thành và tự lập tốt?
Tôi nghĩ không chỉ là may mắn. Tất nhiên, các cháu có nỗ lực của riêng mình, nhưng vai trò của gia đình cũng rất quan trọng, đặc biệt là mẹ của các cháu.
Vợ tôi rất giản dị, không ăn diện, chỉ chăm lo cho con cái và công việc. Việc học của các con được đặt lên hàng đầu. Nếu nói về chuyện nuôi dạy con, thì trong môi trường Trường Đại học Tổng hợp ngày đó, nhiều người vẫn nhận xét là khó ai chăm con học được như bà ấy.
Nhà tôi khi ấy chỉ có một chiếc xe đạp. Sáng bà ấy chở con đi học ở dưới Ba La (Hà Đông cũ) rồi mới đến cơ quan làm việc, trưa mang cơm cho con, chiều đón con về. Để con theo kịp chương trình học, bà ấy có thời gian đã đến lớp học của con, cùng nghe thầy giáo giảng bài để sau đó về giảng lại cho con hiểu.
Sau này, các cháu học tốt và được học bổng đi học ở nước ngoài nên phần nào giảm gánh nặng cho gia đình. Chúng tôi không đặt mục tiêu phải có nhà cao cửa rộng hay cuộc sống xa hoa. Khi mình không đặt nặng vật chất, thì áp lực kinh tế cũng giảm đi rất nhiều. Quan trọng là các con trưởng thành, tự lo được cho cuộc sống của mình.
Được biết hai người con của ông hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài. Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta đang triển khai nhiều chính sách nhằm thu hút đội ngũ trí thức, nhà khoa học ở nước ngoài trở về cống hiến, đặc biệt Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị về phát triển đột phá giáo dục và đào tạo, mục tiêu đến năm 2030 tuyển ít nhất 2.000 giảng viên giỏi nước ngoài cho các cơ sở giáo dục đại học, ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
Cả con trai và con gái tôi đều từng có thời gian về nước làm việc sau thời gian học tập ở nước ngoài tuy nhiên có một số lý do chưa phù hợp ở thời điểm đó, chẳng hạn như hướng nghiên cứu khoa học không phù hợp với Việt Nam khi ấy nên sau đó các con tiếp tục phát triển sự nghiệp ở nước ngoài. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là ngừng kết nối với Việt Nam. Như con trai tôi đang là GS của Đại học Tohoku và Viện Khoa học và công nghệ Nhật Bản Jaist (Nhật Bản) đã góp phần đào tạo hàng chục tiến sĩ người Việt trong các chương trình hợp tác của Việt Nam với Nhật Bản thông qua Viện Jaist.
Vì vậy, với các chính sách thu hút chuyên gia, trí thức về nước, tôi cho rằng rất cần được khuyến khích nhưng để thực sự “mở cửa” với người từ nước ngoài về, cần kết hợp nhiều yếu tố khác.
Trước hết, không chỉ Việt Nam có chính sách thu hút người giỏi, với những người thực sự có năng lực thì các nước khác luôn tìm cách giữ lại. Và lý do khiến nhà khoa học ở lại không chỉ vì kinh tế, mà quan trọng hơn là môi trường làm việc. Ở nước ngoài, họ có điều kiện để phát huy năng lực, được làm đúng chuyên môn, có thiết bị, có hệ sinh thái khoa học phù hợp. Trong khi đó, ở Việt Nam, nhiều nơi chưa có những điều kiện như vậy.
Một lý do nữa, những người được đào tạo ở nước ngoài thường có tư duy phản biện, họ muốn làm những hướng nghiên cứu mới, phù hợp với xu thế thế giới. Nhưng đôi khi lại không phù hợp với cách làm cũ, nên không dễ hòa nhập. Trong khi đó, khoa học thì cần đổi mới, cần tiếp cận cái mới, chứ không thể chỉ dựa vào những gì sẵn có.
Chúng ta hay nói “chảy máu chất xám”, nhưng tôi cho rằng, nhiều em đi ra nước ngoài ban đầu mới chỉ là “có tiềm năng”. Chính môi trường học tập và nghiên cứu ở đó mới giúp họ trở thành “chất xám” thực sự. Vấn đề là khi họ trưởng thành rồi thì trong nước lại chưa có điều kiện tương xứng để họ quay về và phát huy.
Theo tôi, muốn trọng dụng nhân tài thì không chỉ là mời gọi hay hỗ trợ ban đầu, mà quan trọng hơn là phải tạo được môi trường làm việc thực sự, nơi họ có thể phát huy năng lực, có điều kiện nghiên cứu, có sự cởi mở trong tư duy khoa học. Nếu không, dù có thu hút được thì cũng khó giữ chân họ lâu dài.
Trong lĩnh vực bán dẫn, Việt Nam đang đặt ra những mục tiêu phát triển khá tham vọng trong thời gian tới. Từ góc nhìn của một người đi trước, ông có thể kể lại cơ duyên và những khó khăn ban đầu khi ông tiếp cận lĩnh vực này, đặc biệt trong điều kiện còn nhiều hạn chế lúc bấy giờ?
Tôi tự hào là khi bắt đầu nghiên cứu bán dẫn cũng là khi lĩnh vực này trên thế giới mới phát triển. Năm 1956, tốt nghiệp khóa đầu tiên sau hòa bình lập lại và được phân công giảng dạy Vật lý tại Trường Đại học Tổng hợp. Tổ Vật lý của Khoa Khoa học Tự nhiên khi đó có 5 người gồm thầy Ngụy Như Kon Tum – khi ấy là hiệu trưởng nhà trường, thầy Vũ Như Canh, anh Phan Văn Thích, anh Phạm Viết Chinh và tôi. Anh Thích và anh Chinh sau đó được cử đi học ở Liên Xô còn tôi những năm sau đó cũng liên tục được cử đi nghiên cứu sinh, nhưng không năm nào được duyệt do nhu cầu công tác rất thiếu cán bộ.
Thời điểm đó, điều kiện làm việc trong nước hết sức khó khăn. Phòng thực tập Vật lý đại cương duy nhất khi ấy cũng không có trang thiết bị gì nhiều. Tôi đã tự mình nghiên cứu, chế tạo và lắp ráp nhiều thiết bị để phục vụ cho việc dạy học và nghiên cứu khoa học.
Đối với bán dẫn, tôi tình cờ được nghe một đồng nghiệp nhắc đến và sau đó những kiến thức đầu tiên có được là từ cuốn "Transistor thật là đơn giản" được mua từ một hiệu sách ngoại văn ở Hà Nội. Sau này, tôi nhờ được bạn bè đang học ở Liên Xô mua giúp vài con transistor gửi về để thử lắp ráp… Tôi cũng nhờ những người bạn của mình đang học về bán dẫn tại Đại học Lomonosov gửi cho chương trình học và các bài tập chuyên đề bằng tiếng Nga, kết hợp với một số cuốn sách xin được từ các chuyên gia người Nga,… để tự xây dựng ra giáo trình chuyên đề.
Khi ấy, chúng tôi, những người trẻ mới ngoài 30 tuổi luôn có một sự thôi thúc rất lớn: mong muốn đem khoa học – kỹ thuật để đóng góp cho đất nước. Tôi đã bắt đầu làm việc và gắn bó với lĩnh vực bán dẫn từ những năm đó và được tin tưởng giao giải quyết nhiều vấn đề khó khăn gặp phải trong sản xuất và chiến đấu lúc ấy như nghiên cứu về hoạt động của thủy lôi trôi hay cách xác định các tính năng của vi mạch lần đầu tiên được sử dụng trong khí tài của Mỹ,…
Nhìn lại sau này, chính bản thân tôi cũng không nghĩ rằng mình có thể làm được những điều như vậy. Có lẽ không phải vì mình là người đặc biệt, mà bởi hoàn cảnh và thời thế đã tạo nên động lực mạnh mẽ, thúc đẩy chúng tôi dấn thân và làm việc hết mình.
Khi ấy, ông đã dự đoán được sự phát triển của ngành bán dẫn như hôm nay?
Ở thời điểm đó, tôi cũng đã hình dung rằng ngành bán dẫn sẽ phát triển rất mạnh và ngày càng tinh vi, thậm chí sẽ giữ vai trò chủ đạo trong kỹ thuật. Tuy nhiên, những gì tôi nghĩ khi ấy vẫn chưa thể theo kịp tốc độ phát triển thực tế hiện nay. Những gì đang diễn ra bây giờ còn vượt xa rất nhiều so với tưởng tượng của tôi trước đây.
Chẳng hạn, khi tôi mới bắt đầu làm trong lĩnh vực bán dẫn, một linh kiện có kích thước cỡ bằng hạt ngô. Đến khi tôi nghỉ hưu vào năm 2003, kích thước của linh kiện đã thu nhỏ xuống còn khoảng 1–2 micromet. Và đến nay, nó chỉ còn ở mức vài phần của micromet, thậm chí nhỏ hơn nữa.
Sự thu nhỏ liên tục ấy là một bước tiến mang tính đột phá, cho phép chế tạo các thiết bị ngày càng nhỏ gọn nhưng có hiệu năng rất cao. Điều đó cũng cho thấy công nghệ không ngừng phát triển, mở ra nhiều hướng đi mới, vượt ra ngoài khuôn khổ của các linh kiện bán dẫn truyền thống.
Trong bối cảnh nguồn nhân lực và nền tảng công nghệ còn hạn chế, theo ông, việc “đi trước đón đầu” trong ngành bán dẫn có phải là hướng đi khả thi, hay chúng ta vẫn cần một lộ trình phát triển từng bước?
Tôi cho rằng cái gì cũng vậy, sự phát triển sau này phải dựa trên nền tảng trước đó, tức là phải “đứng trên vai những người đi trước”. Nhưng cái khó của mình là nhiều khi lớp trẻ lại không có đủ nền tảng ấy để kế thừa.
Tuy nhiên, về quan điểm “đi trước đón đầu” tôi nghĩ phải rất cẩn trọng. Khi tôi đi thực tập khoa học ở Pháp, có GS nước ngoài nói rằng Việt Nam sớm muộn cũng phải làm bán dẫn, nên định hướng nghiên cứu theo hướng đó. Sau này về nước, tôi cùng đồng nghiệp và học trò tham gia vào Nhà máy Z181 - nhà máy bán dẫn đầu tiên của Việt Nam, nơi làm được từ đầu đến cuối quy trình.
Nhưng rồi thực tế cho thấy rất nhiều rào cản như thiếu những thiết bị quan trọng, cơ bản nên không thể sản xuất tiếp. Điều kiện môi trường khi ấy cũng không đảm bảo: nước không đủ sạch, không khí không đủ tinh khiết. Những yếu tố tưởng nhỏ nhưng lại quyết định cả dây chuyền. Nhà máy đã làm được một mẻ đầu tiên rồi phải dừng.
Vì vậy, tôi nghĩ phải đi từ gốc. “Đón đầu” nếu có thì chỉ nên là đón đầu về con người. Tức là đào tạo nhân lực có khả năng tiếp thu công nghệ. Còn để tự mình làm ngay những công nghệ hiện đại thì rất khó. Một hướng hợp lý là thu hút các công ty nước ngoài vào đầu tư. Khi đó, người Việt Nam vào làm việc, học hỏi dần, từng bước nắm được công nghệ.
Thực tế, đến nay đã xuất hiện một số doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực bán dẫn ở Việt Nam. Tuy nhiên, phần lớn hoạt động của họ mới dừng ở khâu đóng gói, lắp ráp, chưa thực sự tham gia vào sản xuất cốt lõi. Vì vậy, nếu chỉ đi theo hướng gia công thì sẽ khó tạo ra bước phát triển bền vững. Điều quan trọng là phải từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, tiến tới làm chủ công nghệ và sản xuất thực sự ngay tại Việt Nam.
Việt Nam đặt mục tiêu đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn vào năm 2030. Ông đánh giá thế nào về điều này?
Nhiều người nói người Việt Nam khéo tay nên làm được công nghệ bán dẫn, nhưng thực ra không phải vậy. Công nghệ này chủ yếu là máy móc tự động, không phụ thuộc vào sự khéo tay. Điều quan trọng là kiến thức, là công nghệ, mà những thứ đó thì không dễ học nếu chỉ ở trong nước.
Theo tôi, nên chọn những sinh viên giỏi, đưa ra nước ngoài học hoặc vào làm việc trực tiếp trong các môi trường công nghệ cao. Sau này, khi có doanh nghiệp lớn đầu tư vào Việt Nam, chính những người đó sẽ quay về làm việc và phát huy năng lực.
Trong bối cảnh chúng ta còn thiếu đội ngũ dẫn dắt các dự án quy mô lớn, theo ông, việc xây dựng đội ngũ "tổng công trình sư" có phải là yếu tố then chốt để phát triển ngành bán dẫn không?
Dưới góc nhìn của một người đã lớn tuổi, có thể có phần thận trọng, tôi cho rằng thực tế hiện nay, dù nhu cầu rất lớn, chúng ta vẫn chưa có nhiều đơn vị đủ năng lực đứng ra triển khai những dự án công nghệ quy mô. Vai trò của các tổng công trình sư là rất cần thiết song để phát triển, không thể chỉ dựa vào một vài chuyên gia giỏi. Điều quan trọng là phải có một đội ngũ đông đảo, được đào tạo bài bản, có khả năng thực hành và phối hợp với nhau. Ngành bán dẫn lại là lĩnh vực đòi hỏi kiến thức tổng hợp, liên ngành, nên càng cần một hệ sinh thái nhân lực đủ mạnh.
Về hướng đi, tôi cho rằng không nên đặt mục tiêu ngay vào những công nghệ tiên tiến nhất, vì điều đó có thể vượt quá khả năng hiện tại. Thay vào đó, nên bắt đầu từ những công nghệ ở mức vừa tầm, phù hợp với điều kiện của mình. Bài học từ nhiều nước trên thế giới cho thấy họ cũng đi từ những sản phẩm rất đơn giản, rồi từng bước nâng lên.
Bên cạnh đó, không phải tất cả các sản phẩm bán dẫn trên thế giới đều yêu cầu công nghệ quá tinh vi. Vẫn có nhiều loại chip với kích thước lớn hơn, công nghệ không quá cao, nhưng được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như đo lường môi trường, y tế hay ô tô. Việt Nam hoàn toàn có thể bắt đầu từ những hướng đi như vậy để làm quen rồi dần dần tiến lên các công nghệ cao hơn.
Trân trọng cảm ơn giáo sư!
Để phát triển ngành bán dẫn trong nước, trước hết cần đào tạo đội ngũ nhân lực có khả năng tiếp thu nhanh các công nghệ mới. Đồng thời, cũng rất cần thu hút các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Khi đó, người lao động trong nước có cơ hội tham gia trực tiếp, học hỏi từng bước và dần dần làm chủ công nghệ.
Tôi rất may mắn khi vợ con luôn ủng hộ, chia sẻ, không tạo áp lực về vật chất. Nhờ vậy, tôi có thể toàn tâm cho công việc nghiên cứu. Có những lúc tôi mải mê trong phòng thí nghiệm đến mức quên cả thời gian, thậm chí bị khóa cửa mà không biết, phải nhờ người nhà mang cơm đến.
Thu Hương (thực hiện)