Khi dạy thêm không còn thuần túy là hỗ trợ học tập
Về nguyên tắc, dạy thêm, học thêm xuất phát từ nhu cầu chính đáng: giúp học sinh củng cố kiến thức, bù đắp lỗ hổng học tập, cá thể hóa việc học trong điều kiện lớp học đông. Tuy nhiên, trên thực tế, ở không ít nơi, hoạt động này đã vượt khỏi mục tiêu hỗ trợ, trở thành nguồn thu nhập đáng kể, thậm chí là động lực kinh tế chính của một bộ phận giáo viên.
Khi đó, mối quan hệ sư phạm vốn phải dựa trên niềm tin, sự công bằng và trách nhiệm nghề nghiệp bắt đầu bị chi phối bởi lợi ích vật chất. Đặc biệt nguy hiểm là khi giáo viên vừa dạy chính khóa, vừa tổ chức dạy thêm, đồng thời nắm quyền ra đề, chấm điểm và đánh giá học sinh. Trong bối cảnh ấy, ranh giới giữa hỗ trợ học tập và gây áp lực tham gia học thêm trở nên mong manh. Chỉ cần một biểu hiện lệch chuẩn, dù rất nhỏ, cũng đủ làm xói mòn niềm tin của phụ huynh và học sinh.
Trong vụ việc tại Gia Lai, phản ánh của phụ huynh cho rằng những học sinh bị sửa bài, hạ điểm đều không tham gia học thêm tại nhà giáo viên. Dù cơ quan chức năng còn cần thời gian xác minh, nhưng chỉ riêng nghi vấn này cũng đã đủ tạo ra làn sóng hoài nghi trong xã hội - điều cho thấy niềm tin vào sự công bằng của đánh giá học đường đang rất mong manh.
Những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã ban hành nhiều quy định nhằm chấn chỉnh hoạt động dạy thêm, học thêm, đặc biệt ở bậc tiểu học. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, khoảng cách giữa chính sách và thực thi vẫn còn lớn, nhất là ở khâu giám sát và kiểm soát xung đột lợi ích.
Bộ GD&ĐT đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 29/2024/TT-BGDĐT về dạy thêm, học thêm. Dự thảo nhấn mạnh quan điểm không cấm dạy thêm, học thêm chính đáng; không hạn chế nhu cầu học tập hợp pháp của học sinh; không xâm phạm quyền dạy học của nhà giáo. Trọng tâm là tăng cường các biện pháp quản lý nhằm ngăn chặn dạy thêm trá hình, ép buộc học sinh học thêm và trục lợi từ giáo dục.
Một điểm đáng chú ý là việc làm rõ phạm vi điều chỉnh, phân định giữa dạy thêm, học thêm với các hoạt động giáo dục tăng cường do nhà trường tổ chức nhằm phát triển toàn diện người học. Điều này giúp tránh cách hiểu không thống nhất, đồng thời bảo vệ các hoạt động giáo dục hợp pháp, cần thiết.
Dự thảo cũng tăng cường trách nhiệm của Hiệu trưởng trong quản lý hoạt động dạy thêm, học thêm tại trường. Hiệu trưởng được trao quyền chủ động tổ chức dạy thêm cho các đối tượng được phép, song phải chịu trách nhiệm giải trình về tính cần thiết, hợp lý, minh bạch và hiệu quả, bảo đảm không làm biến tướng hoạt động này.
Đáng chú ý, giáo viên khi tham gia dạy thêm ngoài nhà trường phải báo cáo rõ mối quan hệ với chủ thể đăng ký kinh doanh cơ sở dạy thêm. Quy định này nhằm minh bạch hóa hoạt động dạy thêm, phòng ngừa xung đột lợi ích, phù hợp với tinh thần của Luật Phòng, chống tham nhũng.
Đạo đức nghề giáo, ranh giới không thể thỏa hiệp
PGS.TS Trần Thành Nam, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục nhận định, không phải mọi giáo viên dạy thêm đều vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Tuy nhiên, theo PGS.TS Trần Thành Nam, một hệ thống giáo dục tốt không thể được xây dựng trên giả định rằng mọi cá nhân đều luôn hành xử chuẩn mực, mà phải được thiết kế để ngăn chặn rủi ro ngay từ cấu trúc.
Trong vụ việc tại Gia Lai, điều đáng lo, theo PGS.TS Trần Thành Nam, không chỉ nằm ở hành vi bị phản ánh, mà ở chỗ tâm lý xã hội đã sẵn sàng tin rằng điểm số có thể bị chi phối bởi việc học thêm hay không học thêm. Khi phụ huynh và học sinh không còn tin rằng nỗ lực học tập sẽ được đánh giá công bằng, nền tảng đạo đức của giáo dục bị tổn thương nghiêm trọng.
Ở góc độ tâm lý học đường, những hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp có thể để lại tác động rất nặng nề, đặc biệt đối với học sinh ở độ tuổi hình thành nhân cách. Những trải nghiệm tiêu cực như bị đối xử thiếu công bằng có thể gây ra sự “đứt gãy niềm tin” kéo dài, khiến các em nghi ngờ hình ảnh người thầy, hoài nghi giá trị của sự nỗ lực.
PGS.TS Trần Thành Nam cũng chỉ ra rằng, dù ngành Giáo dục đã nói nhiều đến đánh giá vì sự tiến bộ của người học, đánh giá quá trình, đánh giá đa nguồn, nhưng trên thực tế, ở không ít trường học, quyền lực đánh giá vẫn tập trung gần như tuyệt đối vào một cá nhân: giáo viên vừa dạy, vừa ra đề, vừa chấm bài, vừa ôn luyện, thậm chí có dạy thêm.
Trong khi đó, các cơ chế giám sát như chấm chéo, hậu kiểm ngẫu nhiên, giám sát nội bộ ở nhiều nơi chưa được thực hiện đầy đủ hoặc còn mang tính hình thức. Cộng thêm tâm lý e ngại của học sinh khi lên tiếng, sự dè dặt của phụ huynh và sự né tránh va chạm của nhà trường, nhiều sai phạm có thể bị che khuất trong thời gian dài.
Theo PGS.TS Trần Thành Nam, để bảo đảm việc đánh giá học sinh thực sự công bằng và minh bạch, điều quan trọng nhất là phải làm thật, không chỉ dừng ở khẩu hiệu. Trước hết, cần thực hiện đúng triết lý đánh giá vì sự phát triển của người học; tăng cường đánh giá quá trình, đánh giá đa nguồn; giảm sự phụ thuộc tuyệt đối vào đánh giá của một cá nhân. Đồng thời, phải thiết lập các cơ chế kiểm soát độc lập thực chất và minh bạch hóa toàn bộ quy trình đánh giá.
Đặc biệt, hoạt động dạy thêm, học thêm cần được quản lý minh bạch. Khi dạy thêm gắn trực tiếp với lợi ích kinh tế và quyền lực đánh giá, xung đột lợi ích là rất lớn và tiềm ẩn rủi ro đạo đức nghiêm trọng. Nhà trường cần xây dựng các kênh tiếp nhận phản ánh an toàn, kể cả phản ánh ẩn danh, để học sinh và phụ huynh có thể lên tiếng mà không lo bị “để ý”.
“Đào tạo đạo đức nghề giáo cần được coi là quá trình xuyên suốt, không thể gói gọn trong một học phần. Sinh viên sư phạm cần được rèn luyện liên tục thông qua thực hành nghề nghiệp, xử lý tình huống đạo đức, tham gia hoạt động cộng đồng và xây dựng hồ sơ phát triển nghề nghiệp dài hạn. Bởi suy cho cùng, nghề giáo không chỉ là nghề dạy chữ, mà trước hết là nghề của nhân cách”, theo PGS.TS Trần Thành Nam.
Uyên Na