Gieo sinh kế dưới rừng xanh Khum Đin

Gieo sinh kế dưới rừng xanh Khum Đin
6 giờ trướcBài gốc
Khi rừng mở lối sinh kế
Anh Nông Văn Nguyên dáng người nhỏ nhắn, nước da sạm nắng, đi giữa cánh rừng như một phần tự nhiên của núi đồi. Không ồn ào, không phô trương, anh chọn cách gắn bó với rừng bằng việc đưa đàn lợn rừng trở về sống dưới tán rừng trồng và rừng tự nhiên, để thiên nhiên nuôi dưỡng vật nuôi, còn con người thì gìn giữ màu xanh cho đất.
Sinh năm 1979, tốt nghiệp đại học, công tác trong lĩnh vực nông nghiệp, anh Nguyên không phải người nông dân làm ăn theo cảm tính. Gần chục năm gắn bó với chăn nuôi lợn ta, lợn lai, từng có thời điểm nuôi tới 50 con lợn nái sinh sản và 5 con lợn đực giống khai thác tinh nhân tạo, vừa phục vụ cho gia trại của gia đình vừa cung ứng giống cho bà con, nhưng những biến động của thị trường đã khiến anh sớm nhận ra một thực tế: nuôi nhiều chưa chắc đã bền. Anh Nguyên cho biết: Giá lợn lên xuống thất thường, chi phí thức ăn ngày càng cao, dịch bệnh luôn rình rập, làm nhiều mà hiệu quả không tương xứng. Từ những trăn trở ấy, anh bắt đầu tìm cho mình một hướng đi khác - một cách làm phù hợp hơn với điều kiện miền núi, giảm bớt phụ thuộc vào thức ăn công nghiệp và quan trọng nhất là tạo được sự ổn định lâu dài.
Cuối năm 2022, khi mô hình chăn nuôi lợn rừng còn khá mới ở Hạ Lang, anh Nguyên mạnh dạn ký hợp đồng với một doanh nghiệp lớn ở Hà Nội, đưa 32 con lợn rừng thuần chủng về nuôi thử nghiệm. Ban đầu vẫn là chuồng trại quen thuộc, chăm sóc cẩn thận từng bữa ăn, từng mũi tiêm phòng. Nhưng càng nuôi, anh càng nhận ra lợn rừng chỉ thực sự khỏe mạnh khi được sống gần với môi trường tự nhiên vốn có của chúng.
Gia đình anh Nguyên được Nhà nước giao quản lý hơn 5 ha rừng trồng và rừng tự nhiên. Mỗi năm, việc phát dọn cỏ dại, chăm sóc rừng tiêu tốn không ít công sức. Trong những lần đi rừng như thế, một ý nghĩ giản dị nhưng đầy gợi mở dần hình thành: tại sao không để chính đàn lợn rừng trở thành “người dọn rừng” giúp mình? Đến năm thứ hai, khi đàn lợn rừng đã ổn định (tháng 12/2023), gia đình anh mới tính toán nghiêm túc phương án chăn nuôi dưới tán rừng. Sau khi hoàn tất các thủ tục cần thiết và được sự cho phép của các cơ quan chức năng, anh đầu tư rào lưới thép khoanh vùng khu chăn nuôi. Khu rừng tự nhiên được quây khoảng 700 m2, rừng bạch đàn hơn 1,3 ha, tổng diện tích thả nuôi gần 2 ha.
Lợn rừng được thả nuôi dưới tán rừng giúp giảm chi phí thức ăn.
Khi những cánh cổng rừng khép lại, đàn lợn rừng bắt đầu một “cuộc sống mới” - đúng với bản năng vốn có của chúng. Hiệu quả đến theo cách rất tự nhiên. Lợn ăn sạch cỏ dại, cây mọc hoang dưới tán rừng; đất được xới ủi tơi xốp. Không còn cảnh phải phát cỏ định kỳ, không còn mùi hôi hay nước thải tập trung. Khu chăn nuôi cách xa khu dân cư khoảng 3 km, phía dưới là những thửa ruộng bậc thang của bà con trong xóm, nên môi trường luôn đảm bảo.
Anh Nguyên chia sẻ: Nuôi lợn mà lại thấy rừng sạch hơn, đất tốt hơn, mình cũng đỡ vất vả hơn. Lợn khỏe hơn vì được vận động, ít bệnh, còn rừng thì mình không phải phát cỏ nữa. Lợn nuôi rừng mà rừng cũng nuôi lại lợn.
Sau gần 2 năm chăn nuôi dưới tán rừng, hiệu quả kinh tế ngày càng rõ. Gia đình vừa giảm đáng kể chi phí thức ăn, công chăm sóc, vừa có nguồn thu ổn định từ đàn lợn rừng, lại giữ được rừng xanh, đất khỏe. Với anh Nguyên, đó không chỉ là bài toán kinh tế, mà còn là một cách làm nông nghiệp hài hòa với tự nhiên, chậm rãi nhưng bền bỉ, như chính dòng chảy của núi rừng nơi anh gắn bó.
Dưới tán rừng ngày xuân
Chúng tôi gặp anh Nguyên vào một buổi sáng giáp tết, khi sương vẫn còn vương trên lối mòn dẫn vào khu rừng bạch đàn ở xóm Khum Đin, anh dẫn chúng tôi vào rừng. Đi giữa tán cây, thỉnh thoảng lại thấy đàn lợn rừng thoắt ẩn thoắt hiện phía xa, anh Nguyên kể: Làm nông ở vùng cao, nếu chỉ trông chờ vào một thứ thì khó mà yên tâm lâu dài. Bởi thế, khi đã gắn bó với rừng, với lợn rừng, phải nghĩ đến cách làm sao để mọi thứ trong gia trại có thể “nuôi nhau”, không bỏ phí thứ gì.
Cùng với đó, gia đình anh nấu rượu ngô, hai lò nấu rượu được đầu tư công nghệ chưng cất hiện đại, mỗi ngày tiêu thụ hàng tạ ngô. Rượu thành phẩm đã được chứng nhận OCOP 3 sao; bỗng rượu trở thành nguồn thức ăn chính cho đàn lợn. Bỗng rượu trộn với chuối, rau rừng, củ quả, thêm ít cỏ voi, cây dược liệu và những loại cây vốn mọc tự nhiên dưới tán rừng nay trở thành “bữa ăn” quen thuộc của lợn. Lợn rừng vốn kén ăn, nhưng sống dưới tán rừng, quen với mùi đất, mùi lá, chúng ăn khỏe, vận động nhiều, ít bệnh. Phòng bệnh chủ yếu bằng thảo dược, tiêm phòng định kỳ, hạn chế tối đa kháng sinh. Lợn lớn chậm hơn lợn nuôi công nghiệp nhưng thịt săn chắc, thơm, được thị trường ưa chuộng. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả là đầu ra, điều khiến anh yên tâm nhất không chỉ là lợn khỏe hay rừng sạch, mà là sản phẩm làm ra đã có nơi tiêu thụ ổn định. Lợn rừng được doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu dài hạn, giá dao động từ 110.000 - 160.000 đồng/kg thịt hơi. Thị trường Hà Nội và các tỉnh lân cận ngày càng chuộng thứ thịt “nuôi dưới tán rừng”, sạch và thân thiện với môi trường. Tết đến, thương lái gọi điện đặt hàng trước cả tháng.
Theo cách tính của anh, cùng quy mô 30 con nái, chăn nuôi lợn rừng cho thu nhập cao hơn nhiều so với lợn ta, trong khi công chăm sóc giảm, áp lực môi trường cũng giảm bớt. Mô hình còn tạo thêm việc làm cho một số lao động trong xóm, để bà con có thêm thu nhập những lúc nông nhàn. Lợn rừng tuy lớn chậm nhưng bù lại ít bệnh, không phụ thuộc nhiều vào thức ăn công nghiệp và phù hợp với điều kiện rừng núi. Quan trọng hơn, mô hình này giúp người nuôi không phải chạy theo số lượng, không bị cuốn vào vòng xoáy giá cả, mà có thể chủ động tính toán cho những cái tết lâu dài, yên tâm hơn. Khi được hỏi về điều anh tâm đắc nhất, anh Nguyên chia sẻ: Nuôi lợn mà giữ được rừng, giữ được đất, giữ được môi trường, lại không phải lo chạy theo giá cả. Làm nông được vậy là yên tâm ăn tết rồi.
Diệu Linh
Nguồn Cao Bằng : https://baocaobang.vn/gieo-sinh-ke-duoi-rung-xanh-khum-din-3185453.html