PV: Cuối năm 2025 và đầu năm 2026, lãi suất huy động tăng khá mạnh, trong khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm cũng tăng vọt lên mức rất cao. Theo ông, những diễn biến này phản ánh điều gì về trạng thái thanh khoản của hệ thống ngân hàng?
TS. Châu Đình Linh
TS. Châu Đình Linh: Diễn biến tăng lãi suất phản ánh trên toàn bộ hệ thống và cũng là một dấu hiệu cảnh báo sớm cho những yếu tố mang tính bất ổn định. Vì vậy, chúng ta cần quan sát kỹ và nắm bắt những tín hiệu này ngay từ đầu năm.
Nhìn ở góc độ tổng thể, tỷ lệ tín dụng/GDP đã lên tới khoảng 146%, cho thấy phần lớn nguồn vốn trong nền kinh tế ngày càng phụ thuộc sâu sắc vào thị trường tiền tệ thông qua hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, giới hạn sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn của nhiều ngân hàng đã chạm mức 30%, tức gần chạm ngưỡng quy định.
Mọi áp lực đang dồn lên thị trường tiền tệ, tạo ra sự thiếu cân bằng rõ rệt với thị trường vốn. Do đó, chỉ cần xuất hiện một tín hiệu mang tính bất ổn định từ thị trường tiền tệ cũng đủ phát đi những cảnh báo về các vấn đề cần được “khoanh vùng”, quan tâm và xử lý kịp thời.
PV: Theo ông, đâu là những nguyên nhân chính phía sau diễn biến này, trong mối liên hệ với tăng trưởng tín dụng và huy động vốn?
TS. Châu Đình Linh: Đây là kết quả của chuỗi nhiều yếu tố tác động, trong đó, có việc tăng trưởng tín dụng nhanh hơn so với tăng trưởng huy động, kéo theo áp lực thanh khoản trong năm 2026. Trước đó, vào quý III/2025, áp lực này chỉ xảy ra ở một vài ngân hàng, còn thị trường liên ngân hàng vẫn tương đối ổn định, lãi suất xoay quanh mức 6% rồi giảm về khoảng 4% nhờ sự điều tiết thông qua kênh thị trường mở (OMO) của Ngân hàng Nhà nước, nên khi đó áp lực chưa quá lớn.
Khi các ngân hàng lớn có mức độ chi phối thị phần nâng lãi suất, có thể thấy, áp lực thanh khoản sẽ trở thành câu chuyện lớn trong năm 2026.
“Thước đo” cho tăng trưởng tín dụng bền vững
Theo TS. Châu Đình Linh, ngân hàng có tốc độ tăng trưởng cao nhưng kiểm soát tốt thì không có gì đáng lo ngại, với điều kiện đáp ứng đầy đủ các tiêu chí như: hệ số an toàn vốn (CAR), bộ đệm vôaá̉n trị rủi ro toàn diện, gắn với chuẩn Basel II, Basel III. Điều quan trọng là các chỉ số này cần được đánh giá trên cơ sở tổng thể, mang tính tổ hợp, thay vì chỉ nhìn đơn lẻ vào tăng trưởng tín dụng hay khoảng chênh lệch giữa tín dụng và huy động.
Thực tế, có nhiều ngân hàng tăng trưởng tín dụng rất cao, trong khi tăng trưởng tiền gửi lại không tương xứng, có ngân hàng chỉ đạt 5 - 6%, tạo ra khoảng chênh lệch rất lớn. Khi khoảng cách này nới rộng, ngân hàng buộc phải phụ thuộc nhiều hơn vào thị trường liên ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Bên cạnh đó, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) của nhiều ngân hàng đang giảm. Đồng thời, chi phí vốn gia tăng sẽ tác động trực tiếp đến biên lãi ròng (NIM), khiến NIM bị thu hẹp.
Do đó, ngân hàng buộc phải chủ động đẩy mạnh huy động vốn từ khu vực dân cư, đồng nghĩa phải tăng lãi suất huy động, gây tác động khá lớn. Cùng với đó, bài toán thanh khoản buộc phải được giải quyết ngay và thị trường liên ngân hàng trở thành nơi nhiều ngân hàng phải “bám víu” để xử lý nhu cầu thanh khoản trong ngắn hạn.
Đó là chưa kể, chất lượng tài sản cũng rất đáng bàn, khi có những ngân hàng tăng trưởng tín dụng cao, nhưng chất lượng tài sản không tương xứng. Tuy nhiên, không phải cứ ngân hàng tăng trưởng nóng là đều đáng lo.
Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng trong năm 2026 quanh mức 15%. Ảnh: Đức Thanh
PV:Vậy những trường hợp nào tăng trưởng tín dụng nóng, nhưng chưa đáng lo ngại và những tiêu chí quan trọng nào cần được xem xét để đánh giá đúng mức độ rủi ro, thưa ông?
TS. Châu Đình Linh: Một số ngân hàng dù tăng trưởng cao, nhưng lại có hệ thống quản trị rủi ro khá tốt, đã sàng lọc kỹ đối tượng người vay, chứ không phải buông lỏng. Nhiều ngân hàng cũng chủ động lựa chọn “khẩu vị” rủi ro cao hơn, “bỏ trứng vào một giỏ”, nhưng kiểm soát rất kỹ và thực tế có ngân hàng làm được điều này.
Nhiều ngân hàng xây dựng được nền móng vững chãi, từ hệ thống quản trị rủi ro toàn diện, được cập nhật liên tục, có nhiều lớp, nhiều tầng, có sự phân tách và chuyên môn hóa rõ ràng giữa các bộ phận bên trong, để sàng lọc, gạn lọc ngay từ đầu nguồn, bắt đầu từ khâu lựa chọn đối tượng đi vay. Khi làm được như vậy, chất lượng tài sản của ngân hàng sẽ biến động theo hướng tương xứng với mức tăng trưởng và tăng trưởng tín dụng nhanh không có gì đáng lo ngại.
Khi đó, việc chấp nhận khẩu vị rủi ro cao hơn, để tìm kiếm lợi nhuận nhiều hơn là điều hoàn toàn hợp lý, bởi ngân hàng hiểu rõ rủi ro nằm ở đâu.
Ngân hàng Nhà nước cũng nhìn thấy điều này. Việc các tổ chức tài chính quốc tế như Fitch hay S&P đánh giá, nâng hay hạ xếp hạng tín nhiệm cũng chính là đang phản ánh mức độ “kìm cương” và khả năng kiểm soát rủi ro của từng ngân hàng.
Vấn đề chỉ nằm ở chỗ, một số ngân hàng tăng trưởng nóng, nhưng lại phải đánh đổi bằng rủi ro, sự đánh đổi này gây ảnh hưởng rất lớn tới chính ngân hàng. Do đó, cần có chỉ đạo ngay lập tức từ nhà điều hành, phải có hệ thống cảnh báo sớm và theo dõi sát sao.
PV: Xin cảm ơn ông!
Bám sát tín hiệu thị trường để điều hành chính sách
Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 được đặt ở mức cao (trên 10%), Ngân hàng Nhà nước định hướng tăng trưởng tín dụng quanh 15%, thấp hơn đáng kể so với ước thực hiện năm 2025 (19%). Thông điệp điều hành cũng cho thấy sự dịch chuyển trọng tâm sang ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.
Bên cạnh đó, quy định giới hạn sử dụng tối đa 25% hạn mức tín dụng trong 3 tháng đầu năm 2026 được áp dụng, thay vì tăng nóng đầu năm, hết room cuối năm; đi kèm giới hạn room tín dụng bất động sản…
Theo đánh giá của TS. Châu Đình Linh, việc "kìm cương" chính sách giống như đang giữ một con ngựa chạy rất nhanh. Thực tế, có nhiều ngân hàng đang "chạy" rất nhanh, có ngân hàng cho vay khách hàng tăng trưởng gần 40% - mức rất cao.
Động thái điều hành năm nay phản ánh rõ mong muốn của Ngân hàng Nhà nước trong việc ưu tiên ổn định, kiểm soát lạm phát và hạn chế rủi ro khi dòng vốn trên thị trường đang có nhiều biến động khó lường.
“Cũng cần lưu ý, mục tiêu của nhà điều hành rất tốt, nhưng nếu sử dụng biện pháp hành chính lại có thể phản tác dụng, như một con ngựa đang chạy rất nhanh mà bị thắng gấp” - TS. Châu Đình Linh ví von.
Một vấn đề khác được vị chuyên gia này chỉ ra, Ngân hàng Nhà nước vẫn phụ thuộc nhiều vào báo cáo từ các ngân hàng thương mại, trong khi vấn đề đặt ra là các báo cáo đó có đủ chi tiết, rành mạch và được cập nhật theo thời gian thực không. Do đó, phần lớn các quyết định chính sách thường có độ trễ và đi sau thị trường. Vì vậy, cần từng bước chuyển sang cơ chế cập nhật dữ liệu theo thời gian thực, bởi hiện dữ liệu tại các ngân hàng tương đối thông suốt và được cập nhật đầy đủ.
Trong giai đoạn chuyển tiếp, có thể áp dụng mô hình kết hợp “hybrid”, vừa sử dụng công cụ hành chính, vừa bám sát tín hiệu thị trường, mục tiêu là hướng tới tăng trưởng đồng đều và bền vững, qua đó, giúp nhà điều hành đưa ra quyết sách nhanh chóng và kịp thời hơn.
Ánh Tuyết