Khi lúa mùa nổi dần biến mất
Từng có thời mỗi mùa nước nổi tràn về vùng Tứ giác Long Xuyên (TGLX), những cánh đồng lúa mùa nổi lại vươn mình theo con nước. Nước dâng tới đâu, cây lúa lớn theo tới đó. Có những ruộng lúa cao hơn đầu người, bông lúa trĩu vàng giữa biển nước mênh mang. Người dân miền Tây ngày ấy gọi đây là "mùa lúa Tết", mùa no ấm gắn với ký ức của biết bao thế hệ cư dân vùng đầu nguồn.
Trong thập niên 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ trước, diện tích lúa mùa nổi tại Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) từng đạt khoảng 500.000 - 600.000 ha mỗi năm. Riêng vùng TGLX, nông dân gieo sạ trên 300.000 ha. Đây từng là loại hình canh tác chủ đạo ở các vùng trũng ngập lũ như An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang. Nhưng từ sau giai đoạn đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, hệ thống đê bao khép kín được xây dựng (XD) dày đặc, lúa cao sản dần thay thế lúa mùa nổi. Cùng với áp lực sản lượng và thay đổi tập quán canh tác, những cánh đồng lúa nổi từng được xem là "linh hồn mùa nước nổi" bắt đầu biến mất khỏi đồng bằng.
Các bên cam kết đồng hành cùng nông dân để phục hồi diện tích lúa mùa nổi tại vùng Tứ giác Long Xuyên
Hiện nay diện tích lúa mùa nổi ở vùng TGLX chỉ còn khoảng 100 ha. Riêng xã Vĩnh Gia phục tráng được khoảng 75 ha và đang từng bước mở rộng vùng nguyên liệu. Nhiều chuyên gia cho rằng, sự mai một của lúa mùa nổi không đơn thuần là sự biến mất của một giống lúa bản địa, mà còn phản ánh quá trình thu hẹp không gian sinh thái tự nhiên ở vùng đầu nguồn ĐBSCL. Khi nước lũ bị ngăn lại bởi đê bao khép kín, đồng bằng cũng dần mất đi khả năng tự điều tiết, tích nước, tiếp nhận phù sa và phục hồi hệ sinh thái tự nhiên.
Ngày 08/5/2025, UBND xã Vĩnh Gia, tỉnh An Giang phối hợp với Trường Đại học (ĐH) An Giang cùng doanh nghiệp (DN) tổ chức lễ ra mắt Hợp tác xã (HTX) lúa mùa nổi Vĩnh Gia và ký kết hợp tác chiến lược liên kết "Bốn nhà” gồm Nhà nước, nhà nông, nhà khoa học và doanh nghiệp (DN). Hợp tác xã được thành lập với 30 thành viên, do ông Dương Minh Giang làm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc. Giai đoạn đầu, HTX xây dựng vùng nguyên liệu khoảng 200 ha, dự kiến sản lượng 400 tấn lúa mỗi năm.
Đứng giữa cánh đồng lúa mùa nổi đang hồi sinh, ông Giang xúc động chia sẻ: "Đó là sự hồi sinh của một di sản sống gắn với cha ông vùng đầu nguồn". Cũng theo ông, lúa mùa nổi không chỉ cho hạt gạo sạch mà còn lưu giữ ký ức của mùa nước nổi và cách người miền Tây từng sống hài hòa với thiên nhiên suốt nhiều thế hệ.
Điều đặc biệt của giống lúa này là sinh trưởng hoàn toàn theo mực nước lũ tự nhiên. Nước lên tới đâu, cây lúa phát triển theo tới đó. Mô hình canh tác gần như không phụ thuộc nhiều vào phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), giúp giữ đất, giữ nước và bảo tồn hệ sinh thái vùng ngập lũ.
Lúa mùa nổi được đóng bao bì, nhãn mác
Hồi sinh một hệ sinh thái vùng lũ
Không chỉ là cây lương thực, lúa mùa nổi còn được xem là một thành phần quan trọng trong hệ sinh thái nông nghiệp tự nhiên của ĐBSCL. Khác với mô hình sản xuất thâm canh phụ thuộc đê bao khép kín, lúa mùa nổi cho phép dòng lũ mang phù sa tràn đồng, bồi đắp dinh dưỡng tự nhiên và làm sạch mầm bệnh trong đất. Nhờ đó, nông dân giảm đáng kể lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật.
Các cánh đồng lúa nổi còn đóng vai trò như những "túi chứa nước" tự nhiên, giúp điều tiết dòng chảy, giảm áp lực lũ cho vùng hạ lưu và duy trì nguồn nước ngầm trong mùa khô. Sau mỗi vụ lúa, lớp rơm rạ mục tiếp tục trở thành nguồn hữu cơ tự nhiên phục vụ sản xuất hoa màu và nuôi dưỡng hệ vi sinh vật của đất.
Đáng chú ý, hệ sinh thái lúa mùa nổi còn tạo môi trường sinh sản và trú ngụ cho nhiều loài thủy sản tự nhiên như cá, tôm, cua đồng... Đây từng là nguồn sinh kế quan trọng của cư dân vùng đầu nguồn trong mùa nước nổi.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH), sụt lún và suy giảm phù sa ngày càng nghiêm trọng, nhiều nhà khoa học cho rằng việc phục hồi lúa mùa nổi không còn là câu chuyện bảo tồn giống lúa cũ, mà là tìm lại mô hình sản xuất thuận thiên cho tương lai đồng bằng.
Hơn 13 năm qua, Trường ĐH An Giang cùng nhóm nghiên cứu của Thạc sĩ Lê Thanh Phong - Phó Viện trưởng Viện Biến đổi khí hậu, Trường ĐH An Giang - đã đồng hành cùng địa phương trong nghiên cứu, bảo tồn và phục tráng giống lúa mùa nổi tại Vĩnh Gia. Từ những ruộng lúa còn sót lại của người dân, các nhà khoa học từng bước phục dựng nguồn gen quý đang đứng trước nguy cơ thất truyền.
PGS.TS Nguyễn Phương Thảo - Phó Hiệu trưởng Trường ĐH An Giang - khẳng định: "Lúa mùa nổi không chỉ là một giống cây trồng, đó là kết tinh của trí tuệ dân gian và là giải pháp thích ứng tự nhiên cho tương lai ĐBSCL trước tác động của BĐKH".
Cũng theo bà Thảo, trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học không chỉ phục hồi nguồn gen quý mà còn nâng cao giá trị lúa nổi theo hướng nông nghiệp sinh thái, đáp ứng nhu cầu thị trường về gạo sạch và thực phẩm xanh. Hiện Trường ĐH An Giang đã XD được hơn 600 giống, dòng lúa có nguồn gốc đa dạng; đồng thời nghiên cứu phát triển các giống lúa nổi mới có chất lượng cao, phù hợp phân khúc gạo sạch và gạo sinh thái.
Cánh đồng lúa mùa nổi ở Vĩnh Gia
"Sự ra đời của HTX lúa mùa nổi Vĩnh Gia không chỉ là sự hình thành của một đơn vị kinh tế tập thể, mà còn là sự xác lập của liên minh tri thức và trách nhiệm nhằm bảo tồn, phát huy giá trị lúa mùa nổi - di sản nông nghiệp đặc sắc của ĐBSCL", bà Thảo chia sẻ.
Ở góc độ quản lý, ông Nguyễn Văn Cọp - Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh An Giang - cho rằng, việc phục tráng giống lúa mùa nổi gắn với mô hình liên kết "Bốn nhà” là hướng đi phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp bền vững hiện nay. "Việc HTX ký liên kết "Bốn nhà” là tín hiệu tích cực, tạo nền tảng để phát triển bền vững mô hình lúa mùa nổi trong thời gian tới", ông Cọp nhấn mạnh.
Từ hạt gạo di sản đến kinh tế xanh
Nếu nhà khoa học giữ vai trò phục hồi nguồn gen và tri thức canh tác, DN được xem là mắt xích quan trọng để nâng giá trị hạt gạo lúa mùa nổi. Tại lễ ký kết, đại diện Công ty cổ phần O Plant-Based Food, ông Nguyễn Hoàng Minh Tâm cho rằng hạt gạo không chỉ là lương thực mà còn là "hồn cốt của nền văn minh lúa nước Việt Nam". Theo DN này, Vĩnh Gia được lựa chọn triển khai dự án vì vẫn còn lưu giữ giống lúa mùa nổi, loại lúa di sản thích nghi tự nhiên với mùa nước nổi và mang đậm dấu ấn văn hóa vùng TGLX.
Thạc sĩ Lê Thanh Phong - Phó Viện trưởng Viện Biến đổi khí hậu, Trường Đại học An Giang - bên ruộng lúa mùa nổi ở xã Vĩnh Gia
Theo định hướng hợp tác đến năm 2045, DN cam kết đồng hành cùng địa phương trên 3 trụ cột gồm: đầu tư công nghệ chế biến sâu, XD cơ chế bao tiêu ổn định và phát triển thương hiệu nông sản gắn với du lịch sinh thái. Cụ thể, DN sẽ đầu tư XD xưởng thực nghiệm tại địa phương nhằm phát triển các dòng sản phẩm giá trị gia tăng từ lúa mùa nổi như bánh mì gạo, sandwich, pizza, bánh bao gạo nguyên cám Nàng Tây Đùm và nhiều sản phẩm thuần thực vật khác đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Mục tiêu đặt ra là chuyển đổi từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang phát triển thực phẩm chất lượng cao mang thương hiệu Việt Nam. Đồng thời, DN cam kết bao tiêu sản phẩm với mức giá ổn định để người dân yên tâm SX, góp phần bảo tồn hệ sinh thái lúa mùa nổi. "Chúng tôi sẽ sử dụng toàn bộ nguồn lực để XD thương hiệu "Vĩnh Gia" trở thành biểu tượng nông sản di sản quốc gia, gắn với bảo tồn văn hóa và phát triển du lịch sinh thái", đại diện DN nhấn mạnh.
Theo ông Nguyễn Hoàng Vĩnh - Chủ tịch UBND xã Vĩnh Gia, việc hình thành HTX và liên kết "Bốn nhà” là bước đi quan trọng để khôi phục vùng lúa đặc sản của địa phương, tạo nền tảng phát triển nông nghiệp sinh thái, bền vững và thích ứng với BĐKH. Địa phương xác định sẽ phát triển vùng nguyên liệu lúa mùa nổi theo hướng tập trung, gắn với bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước; đồng thời XD thương hiệu "Lúa mùa nổi Vĩnh Gia" gắn với câu chuyện sinh thái, văn hóa vùng lũ và từng bước đưa sản phẩm tham gia Chương trình OCOP.
Giữa áp lực BĐKH, sụt lún, thiếu phù sa và suy giảm nguồn nước, sự trở lại của lúa mùa nổi ở Vĩnh Gia có thể chưa tạo ra những cánh đồng hàng chục ngàn héc-ta như trước đây, nhưng từ những ruộng lúa đang hồi sinh nơi vùng đầu nguồn, đồng bằng đang được trao thêm cơ hội để tìm lại cách sống hài hòa với tự nhiên, điều từng làm nên sức sống bền bỉ của miền Tây suốt hàng trăm năm qua. Nếu tiếp tục chạy theo sản lượng bằng mọi giá, những cánh đồng mùa nước nổi rồi sẽ chỉ còn trong ký ức.
Ngược lại, khi người dân bắt đầu trả lại không gian cho nước, phục hồi lúa mùa nổi và chọn hướng phát triển thuận thiên, đồng bằng sẽ có thêm cơ hội để hồi sinh. Giữ lại vài chục héc-ta lúa mùa nổi hôm nay không chỉ là giữ một giống lúa cổ, mà còn là giữ lớp đệm sinh thái, giữ nguồn phù sa và giữ sức sống lâu dài cho cả ĐBSCL. Muốn giữ đồng bằng, trước hết phải giữ được những cánh đồng lúa mùa nổi.
LÂM THIÊN - TRÚC GIANG