PGS.TS Trần Thị Hồng Hạnh, Giảng viên cao cấp Khoa Ngôn ngữ học, Tiếng Việt và Việt Nam học. Ảnh: NVCC
PV: Thưa bà: Cha ông ta trong quá khứ đã kiên cường để giành được độc lập dân tộc. Xin bà cho biết, cùng với việc khẳng định chủ quyền, cha ông ta đã khẳng định bản sắc ngôn ngữ và chủ quyền văn hóa như thế nào trong bối cảnh sau 1000 năm Bắc thuộc?
PGS.TS Trần Thị Hồng Hạnh: Trong lịch sử dân tộc Việt Nam từ xưa, nền độc lập hay quyền tự chủ dân tộc đã có nhiều lúc đe dọa nhưng có thể khẳng định rằng tiếng nói của dân tộc chưa bao giờ bị mất đi. Cho dù lịch sử có nhiều thăng trầm và xã hội có nhiều biến động, người Việt vẫn nói thứ tiếng nói của dân tộc mình, tiếng Việt với tư cách là phương tiện giao tiếp chủ yếu và duy nhất trong sinh hoạt hằng ngày vẫn có sức sống bền bỉ trong đời sống của người dân.
Triều đại nhà Đinh và Tiền Lê được xem là giai đoạn củng cố nền độc lập dân tộc sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc. Đây là một cái mốc quan trọng về mặt chính trị, nhưng cũng là cái mốc quan trọng về mặt ngôn ngữ.
Nói về bối cảnh lúc bấy giờ, sau khi giành được độc lập tự chủ, chữ Hán vẫn còn được tiếp tục được dùng rộng rãi ở nước ta, và thực tế là được dùng cho mãi đến tận đầu thế kỷ XX. Sở dĩ có thể nói thời kỳ này là mốc quan trọng về mặt ngôn ngữ là vì, trước khi giành được độc lập, người Việt ta dùng chữ Hán, học chữ Hán như một thứ tiếng nước ngoài. Còn sau khi giành được độc lập tự chủ, ta vẫn dùng chữ Hán như cũ, về mặt từ vựng ngữ ngáp thì không có gì khác với người Hán ở Trung Quốc, nhưng về mặt ngữ âm, ta đọc chữ Hán theo lối của ta, khác hẳn cách đọc của người Hán. Hiểu một cách đơn giản là tiếng Hán ở ta khi đó đã mất tư cách của một ngoại ngữ, và mất hẳn tư cách của một sinh ngữ.
Tiếng Hán càng ngày càng chịu sự chi phối của tiếng Việt, nếu có diễn biến là nó diễn biến trong phạm vi, trong quỹ đạo của qui luật ngữ âm và ngữ âm lịch sử tiếng Việt. Cách đọc Hán Việt dần tương đối ổn định trong giai đoạn đầu của thời kỳ tự chủ, kể từ họ Khúc, qua các thời Ngô, Đinh, Lê và có thể đến đầu nhà Lý là cơ sở để hình thành chữ Nôm. Theo sử học Đào Duy Anh thì chữ Nôm đã xuất hiện do yêu cầu mới của xã hội từ sau cuộc giải phóng, đặc biệt là dưới các triều Đinh Lê và đầu triều Lý. Chữ Nôm chính là một sản phẩm ngôn ngữ, sản phẩm văn hóa của người Việt, phản ánh ý thức độc lập tự chủ về mặt ngôn ngữ của người Việt thông qua việc tạo ra một hệ thống chữ viết riêng để ghi lại tiếng nói dân tộc.
PV: Theo bà sự hiện diện của chữ Hán trên văn bia, hoành phi, câu đối hay các bài văn khấn trong các nghi lễ ở đền vua Đinh vua Lê nói riêng, các đền chùa và di tích lịch sử nói chung có phản ánh việc chúng ta còn bị lệ thuộc vào văn hóa ngôn ngữ phương Bắc không, xin bà chia sẻ đánh giá về vấn đề trên?
Sự hiện diện của chữ Hán trong các bài văn khấn, trên văn bia, hoành phi, câu đối của các di tích lịch sử nói riêng hay các di sản chữ Hán khác (tài liệu văn học, triết học, sử học, luật pháp, y khoa, tôn giáo và hành chính như khế ước, hương ước…) nhìn chung không thể coi là biểu hiện của bất cứ sự lệ thuộc nào về mặt ngôn ngữ. Cha ông ta đã dùng chữ Hán một cách chủ động như một thứ văn tự để ghi chép lại vốn tri thức, văn hóa của dân tộc. Việc sử dụng chữ Hán còn là nền tảng để người Việt sáng tạo ra chữ Nôm - một bước tiến vĩ đại thể hiện ý thức tự chủ ngôn ngữ. Hơn nữa, những nội dung khắc trên văn bia, hoành phi bằng chữ Hán thường là để ca ngợi các vị anh hùng dân tộc chống lại chính phương Bắc, hoặc khẳng định nền độc lập của dân tộc, tức là để ghi chép lại vốn tri thức văn hóa lịch sử của dân tộc, Như vậy, thay vì là sự lệ thuộc, cha ông ta đã biến công cụ của đối phương thành phương tiện khẳng định bản sắc mình.
PV: Trong công tác tu bổ, cải tạo di tích hiện nay, xảy ra tình trạng viết sai nội dung Hán Nôm hoặc thay thế hoàn toàn chữ Hán Nôm bằng chữ Quốc ngữ. Xin bà có thể chia sẻ quan điểm về vấn đề trên không?
Có nhiều nơi, nhiều công trình, việc tu bổ sửa chữa có ít nhiều những sai sót không đáng có, trong đó có những sai sót khi dùng sai, viết sai chữ Hán Nôm hay thay vì dùng chữ Hán Nôm thì sẽ viết chữ Quốc ngữ trên các câu đối, hoành phi… Thực ra, người đề xuất việc dùng chữ Quốc ngữ để thay thế cho chữ Hán Nôm cũng ít nhiều có lý của họ, không phải là hoàn toàn vô lý và nếu chấp nhận cái lý của họ thì việc dùng chữ Quốc ngữ thay cho chữ Hán Nôm cũng là việc có thể chấp nhận được. Có điều, nếu đã dùng chữ Hán Nôm thì phải dùng đúng, cái gì là sai thì rõ ràng là không thể chấp nhận được và đã biết là sai thì phải sửa lại cho đúng.
Còn việc cần làm thế nào cho đúng thì lại là một câu chuyện dài vì nó liên quan đến vấn đề bảo tồn và phát huy di sản Hán Nôm… Có quá nhiều điều cần bàn cho vấn đề này mà một vài câu không thể nói hết được.
PV: Thực trạng hiện nay chữ Hán Nôm không còn được giảng dạy trong chương trình giáo dục phổ thông và vị thế của Hán Nôm trong đời sống xã hội đã suy giảm so với trước đây. Theo bà, mức độ ảnh hưởng và nguy cơ đứt gãy đối với việc tiếp cận di sản văn hóa mà cha ông để lại đang đặt ra những vấn đề đáng lưu ý như thế nào?
Tất nhiên, không chỉ có di sản Hán Nôm, các di sản văn hóa đều là tài sản vô giá mà lịch sử để lại cho các thế hệ sau, nếu như chúng ta không nâng niu, gìn giữ và lưu truyền thì đến một lúc nào đó, các thế hệ sau sẽ không có cơ hội để biết đến những di sản đó nữa.
Rõ ràng, sự đứt gãy văn hóa là điều vô cùng đáng tiếc đối với bất cứ một dân tộc nào. Nhưng lý do chữ Hán Nôm không còn được dạy phổ thông và vị thế của Hán Nôm không còn như trước kia nữa không phải là lý do duy nhất và cũng không phải là lý do trước nhất dẫn đến việc người Việt thờ ơ hoặc không hiểu được nguồn cội văn hóa mà cha ông để lại. Để các thế hệ sau không thờ ơ với di sản, không quay lưng lại với lịch sử thì lại cần làm nhiều việc hơn và nhiều việc khác hơn thế nữa…
PV: Xin bà chia sẻ quan điểm về việc làm thế nào để khơi gợi nhu cầu tiếp cận chữ Hán Nôm trong giới trẻ hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh ngôn ngữ cổ thường bị xem là khó, xa lạ hoặc thiếu tính ứng dụng thực tiễn. Những giải pháp có thể đặt ra mang tính nền tảng và bền vững nào có thể giúp người Việt Nam hình thành sự quan tâm, trân trọng và ý thức bảo tồn đối với các di sản văn hóa ngôn ngữ của dân tộc?
Theo quan sát của tôi trong thời gian gần đây thì thực ra giới trẻ không phải là không quan tâm đến di sản Hán Nôm. Bằng chứng là vào dịp Tết nguyên đán, tôi đến Văn Miếu thấy người đến xin chữ, xem biểu diễn thi pháp đông nghịt, tắc cả đường… Các chương trình trải nghiệm về thư pháp ở Văn Miếu thông qua các trò chơi thực tế ảo cũng thu hút được nhiều khách du lịch đến tham gia. Dĩ nhiên, di sản Hán Nôm là một kho tàng lớn hơn và nhiều thứ hơn như thế mà để bảo tồn và phát huy vốn di sản đó thì rõ ràng không còn là câu chuyện trao đổi hai người chúng ta với nhau như thế này nữa rồi. Nên để mà nói về giải pháp mang tính bền tàng và bền vững thì tôi e rằng hơi quá “tầm” của một người giảng viên như tôi, nhưng theo tôi, tình cảm, sự trân trọng và ý thức bảo tồn di sản văn hóa ngôn ngữ nói riêng, di sản văn hóa dân tộc nói chung phải hình thành tự nhiên, tình yêu đến tự nhiên thì sự gắn bó với di sản sẽ là sự gắn bó tự nguyện và lâu bền… Cách tiếp cận như câu chuyện về tour trải nghiệm ở Văn Miếu như tôi vừa nhắc đến là một việc làm theo tôi là rất đáng ghi nhận và là cách làm mà những người đang trăn trở với câu hỏi làm thế nào để giới thiệu di sản Hán Nôm, lan tỏa ý thức tự hào, tình cảm trân trọng di sản tới thế hệ trẻ cách tự nhiên, gần gũi nhất rất đáng suy ngẫm và học hỏi.
Vâng! Xin chân thành cảm ơn bà.
Ngọc Ánh