Trong đời sống văn hóa truyền thống của người Việt, lễ hội thường bao gồm hai phần gắn bó chặt chẽ: phần lễ và phần hội. Nếu phần lễ thể hiện sự tri ân đối với tiền nhân, với các bậc danh nhân có công với quê hương, đất nước, thì phần hội lại là không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nơi các giá trị văn hóa dân gian được tái hiện sinh động. Chính sự kết hợp ấy đã làm nên sức sống bền bỉ của lễ hội trong đời sống xã hội.
Lễ hội với những nghi thức và các trò diễn xướng truyền thống đã làm nên những giá trị văn hóa đặc sắc cho miền quê Hà Tĩnh.
Dọc theo dải bờ biển hơn 130 km của Hà Tĩnh, nhiều làng xã từ lâu đã hình thành những lễ hội gắn với đời sống biển. Vùng cửa biển, không chỉ là nguồn sinh kế mà còn là không gian văn hóa đặc biệt, nơi hình thành nên những tín ngưỡng và tập tục riêng. Vì vậy, lễ hội ở các làng biển thường mang đậm dấu ấn của đời sống ngư dân với các nghi thức cầu ngư, tế cá Ông và những diễn xướng dân gian tái hiện hành trình ra khơi...
Trong những ngày hội ấy, không chỉ có khói hương nơi đình, đền, miếu mạo mà còn có tiếng trống, tiếng hò và những trò diễn mang đậm sắc thái biển cả. Người già tham gia các nghi lễ truyền thống, thanh niên trai tráng vào đội bơi thuyền, đấu vật, kéo co, cờ người, đi cà kheo.... Tất cả tạo nên không khí hội làng rộn ràng và mỗi người dân đều trở thành một phần của lễ hội.
Trên vùng cửa biển Cửa Nhượng (xã Thiên Cầm), mỗi năm, khi mùa Lễ hội Cầu ngư Nhượng Bạn đến, tiếng trống hội lại vang lên rộn ràng bên sóng biển. Đối với cư dân làng biển, đây không chỉ là dịp cầu mong mưa thuận gió hòa, thuyền ra khơi bình an mà còn là ngày hội của cả cộng đồng.
Trong không gian ấy, hò chèo cạn trở thành điểm nhấn đặc sắc. Đây là hình thức diễn xướng dân gian kết hợp giữa dân ca, dân vũ và nghi lễ, tái hiện hành trình ra khơi của ngư dân. Những nhịp chèo tượng trưng cho con thuyền vượt sóng, những câu hò mộc mạc kể về cuộc sống lao động nơi làng biển, hòa vào tiếng trống hội tạo nên một không gian văn hóa vừa linh thiêng vừa gần gũi.
Hò chèo cạn - hình thức diễn xướng dân gian kết hợp giữa dân ca, dân vũ và nghi lễ, tái hiện hành trình ra khơi của ngư dân trong Lễ hội cầu ngư Nhượng Bạn ở xã Thiên Cầm.
Gắn bó nhiều năm với đội hò chèo cạn của làng, nghệ nhân dân gian Hoàng Ngọc Chung được xem là một trong những người lưu giữ khá đầy đủ các làn điệu chèo cạn cổ của vùng Cửa Nhượng. Ngoài những ngày mưu sinh theo thuyền cá, ông vẫn dành thời gian sưu tầm các câu hò từ những bậc cao niên trong làng và truyền dạy lại cho lớp trẻ.
Nghệ nhân dân gian Hoàng Ngọc Chung - ngư dân làng biển Cẩm Nhượng (Thiên Cầm) có hàng chục năm gắn bó với vai hề trong diễn xướng Hò chèo cạn.
“Chèo cạn là nét văn hóa lâu đời của làng biển chúng tôi. Mỗi mùa lễ hội, bà con lại tập trung tập luyện và biểu diễn. Tôi tham gia Hò chèo cạn từ năm 1978, thành thục vai diễn nhờ quá trình học hỏi, tích lũy từ các thế hệ đi trước. Hiện nay, lễ hội vẫn nhận được sự hưởng ứng của thế hệ trẻ và tôi vẫn luôn sẵn sàng chia sẻ, truyền dạy cho các cháu những câu hò, những điệu chèo cũ để văn hóa truyền thống được tiếp nối, hiện diện trong đời sống cộng đồng”, nghệ nhân Hoàng Ngọc Chung chia sẻ.
Không chỉ ở các làng ven biển, nhiều lễ hội truyền thống khác trên địa bàn Hà Tĩnh cũng đang được cộng đồng gìn giữ và duy trì. Theo thống kê của ngành văn hóa, toàn tỉnh hiện có gần 100 lễ hội truyền thống lớn nhỏ, trong đó khoảng 67 lễ hội vẫn được tổ chức thường niên, chủ yếu vào mùa xuân - mùa của khởi đầu và ước vọng.
Mỗi lễ hội gắn với một câu chuyện lịch sử, một nhân vật hoặc một sự kiện có ý nghĩa đối với cộng đồng. Tiêu biểu như lễ hội Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, lễ hội Chùa Hương Tích, lễ hội Báo ân Đô đài Ngự sử Bùi Cầm Hổ, lễ hội Đền Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu, lễ hội đền Lê Khôi v.v...
Các bậc cao niên, tiến hành nghi lễ tại lễ Báo ân Đô đài Ngự sử Bùi Cầm Hổ.
Điều đáng chú ý là trong nhiều lễ hội ở Hà Tĩnh, cộng đồng luôn giữ vai trò chủ thể. Người tham gia đội rước, người đảm nhiệm các nghi thức tế lễ, người luyện tập các trò diễn dân gian, người chuẩn bị lễ vật… Tất cả cùng góp phần làm nên không khí của ngày hội làng – một sinh hoạt văn hóa vừa thiêng liêng vừa gần gũi.
Ông Nguyễn Tiến Thích – Phó Chủ tịch UBND xã Hương Sơn, Chủ tế lễ hội Hải Thượng Lãn Ông – cho biết: “Để lễ hội diễn ra trang nghiêm và đúng với truyền thống, trước mỗi mùa lễ chúng tôi đều tổ chức chuẩn bị và tập luyện các nghi thức rất cẩn trọng. Quan trọng hơn là sự tham gia của người dân địa phương, bởi chính cộng đồng là chủ thể của lễ hội.”
Từ những buổi tập luyện nghiêm túc, chủ tế và các bồi tế đã thực hành nghi lễ cúng tế ở Lễ hội Hải Thượng Lãn Ông một cách trang trọng.
Trong đời sống hiện đại, nhiều lễ hội đã bị phai nhạt, mai một. Và phía sau những hội hè đình đám rộn rã, những nghi thức trang nghiêm, đậm bản sắc như vậy là sự đóng góp thầm lặng của các nhà nghiên cứu và những người làm công tác văn hóa. Trong nhiều năm qua, từ những chuyến điền dã tại các làng quê, nhiều cán bộ văn hóa và nhà nghiên cứu đã kiên trì sưu tầm các nguồn tư liệu liên quan đến lễ hội như sắc phong, thần tích, gia phả, văn tế, cũng như ghi chép lại ký ức truyền khẩu của các bậc cao niên trong cộng đồng.
Từ những mảnh ghép tư liệu tưởng chừng rời rạc ấy, lịch sử của nhiều lễ hội dần được tái hiện; các nghi thức tế lễ, trình tự rước, các trò diễn dân gian từng bị gián đoạn theo thời gian cũng được đối chiếu, phục dựng và hoàn thiện lại. Chính công việc lặng lẽ ấy đã góp phần giúp nhiều lễ hội truyền thống ở Hà Tĩnh từng bước được khôi phục, trở lại trong đời sống văn hóa cộng đồng với diện mạo ngày càng đầy đủ và chuẩn mực hơn.
Không chỉ nghiên cứu, phục dựng, nhiều năm qua, Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Thư Hiền còn cần mẫn, bền bỉ trong việc vận động cộng đồng tham gia giữ gìn, thực hành di sản.
Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Thư Hiền – nguyên Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh chia sẻ: “Từng tham gia phục dựng nhiều lễ hội, tôi thấy, điền dã và sưu tầm tư liệu chỉ là bước đầu, quan trọng hơn là phải đối chiếu, chọn lọc để phục dựng đúng tinh thần của lễ hội truyền thống. Hơn nữa, lễ hội không thể chỉ tồn tại trong tư liệu hay trong các bản phục dựng, mà phải được cộng đồng thực hành, tiếp nối qua từng mùa hội. Khi người dân hiểu và tự nguyện tham gia gìn giữ, lúc đó di sản mới thực sự sống.”
Từ những nghi lễ trang nghiêm nơi sân đình đến nhịp chèo cạn rộn ràng nơi cửa biển, từ những cuộc thi bơi thuyền sôi nổi trên sông đến những ván cờ người giữa sân làng… tất cả đang tạo nên mạch nguồn văn hóa bền bỉ của vùng đất Hà Tĩnh. Giữ lửa hội quê, vì thế, không chỉ là giữ một mùa lễ hội, mà còn là giữ lại phần hồn văn hóa của mỗi làng quê trong dòng chảy thời gian.
Các lễ hội truyền thống không chỉ là không gian sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng mà còn chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, văn hóa đặc sắc của địa phương. Vì vậy, việc gìn giữ và phát huy các lễ hội có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ để bảo tồn di sản mà còn góp phần tạo nên những sản phẩm văn hóa – du lịch đặc trưng. Trong quá trình đó, chính những nghệ nhân dân gian, những người làm công tác văn hóa ở cơ sở và cộng đồng địa phương là lực lượng giữ vai trò then chốt. Họ không chỉ nắm giữ các nghi thức cổ, các làn điệu dân gian mà còn truyền lại những giá trị ấy cho thế hệ sau, giúp lễ hội tiếp tục được duy trì và phát triển trong đời sống hôm nay.
Ông Trần Xuân Lương - Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh
Anh Hoài