Phụ nữ cao niên Chăm ở xã Hàm Thuận gói bánh mừng Tết Katê
Bánh Nòn Ya - lễ vật dâng cúng tổ tiên
Đến làng Chăm vào mỗi khi mùa lễ hội về, có một mùi hương rất riêng của gừng cay nhẹ quyện trong bột nếp, lan tỏa từ những căn bếp nhỏ, nơi các bà, các mẹ ngồi lặng lẽ bên chảo dầu sôi. Những chiếc bánh gừng được tạo hình, không chỉ là món ăn, mà là ký ức, tín ngưỡng, sợi dây nối dài văn hóa Chăm qua bao năm tháng. Và những người phụ nữ Chăm lớn tuổi chính là “kho tàng sống”, họ lặng thầm giữ gìn những giá trị ấy bằng trí nhớ và đôi bàn tay khéo léo. “Đã là phụ nữ Chăm trong làng thì ai cũng phải biết làm bánh gừng, để gìn giữ giá trị văn hóa của tổ tiên”, nghệ nhân Thông Thị Chồi, 65 tuổi, ở thôn 3 Ma Lâm, xã Hàm Thuận nói chắc nịch. Bà luôn nhắc nhở các cháu gái trong dòng họ, nhất là những cháu đi học xa nhà, phải nhớ cách làm bánh, nhớ nghề của bà, của mẹ để lại.
Dáng người đậm, nước da sạm nắng, dù đã lớn tuổi nhưng bà Chồi vẫn xông xáo trong công việc thôn xóm và sinh hoạt chi hội phụ nữ. Nhiều năm liền, vào mỗi dịp Tết Katê, bà là một trong những nghệ nhân tiêu biểu của các làng Chăm trong tỉnh tham gia hội thi làm bánh gừng tại tháp Pô Sah Inư, phường Phú Thủy. Với bà, đó không chỉ là cuộc thi, mà là dịp để “trình” lại nghề với tổ tiên.
Trong không gian Lễ hội Katê, bên cạnh múa Chăm, dệt thổ cẩm, làm gốm, hội thi làm bánh gừng luôn thu hút đông du khách đến tham quan, trải nghiệm. Khi thưởng thức bánh, du khách thường được nghe các nghệ nhân kể lại những truyền thuyết xưa, để hiểu rằng mỗi chiếc bánh không chỉ có vị ngọt, vị cay, mà còn chứa đựng cả câu chuyện về đời sống tinh thần và niềm tin của người Chăm.
Bà Chồi nhớ lại, từ khi còn nhỏ, mỗi mùa Katê, Lễ hội Katê Pô Tằm của thôn hay dịp lễ trong gia đình, bà đều theo mẹ và các chị học làm bánh. Những buổi ngồi quanh mâm bột, quan sát từng động tác nặn bánh, thắng đường, đã ngấm dần vào trí nhớ. Trải qua hơn 50 năm gắn bó với nghề, bằng sự khéo léo và tỉ mỉ, bà không chỉ làm bánh cho gia đình, làng xóm, mà còn cùng các nghệ nhân khác truyền nghề làm bánh cho phụ nữ Chăm trong tỉnh và cả địa phương lân cận như Ninh Thuận cũ.
Chiếc bánh gừng thành phẩm
“Bánh gừng, tiếng Chăm gọi là Nòn Ya hoặc Gingrong Laya. Bánh có hình củ gừng, vị gừng cay nhẹ, ấm nồng. Đây là lễ vật quan trọng nhất dâng cúng tổ tiên trong các lễ hội, đặc biệt là Tết Katê và lễ cưới. Trên bàn thờ ngày Katê, bánh gừng luôn được đặt ở vị trí cao nhất, các loại bánh khác chỉ là phụ họa. Dâng bánh gừng là mong cuộc sống ấm no, hạnh phúc”, bà Chồi chậm rãi nói.
Bánh này ông bà để lại từ đời ông cố, ông sơ. Tôi già rồi thì dạy lại cho con cháu. Có nhiều loại bánh nhưng phổ biến như: bánh gang tay, bánh đổ chén nữa... nhưng bánh gừng vẫn là quan trọng nhất.
Nghệ nhân Đàng Thị Xuân, thôn Bình Hiếu, xã Bắc Bình
Theo lời kể của các nghệ nhân cao niên, bánh Nòn Ya còn được gọi là “bánh giận hờn”, gắn với truyền thuyết về người phụ nữ Chăm chờ chồng đi chinh chiến. Ngày ngày, nàng làm bánh gừng mang ra biển, nhờ cá gửi lời nhắn mong chồng sớm trở về đoàn tụ. Tháng năm mòn mỏi trôi qua trong chờ đợi, người vợ đã hóa đá. Còn những chiếc bánh lâu ngày hóa thành san hô dưới đáy biển. Từ đó, bánh gừng trở thành biểu tượng của lòng thủy chung, của sự đợi chờ son sắt.
Giữ hồn văn hóa qua đôi tay khéo léo phụ nữ Chăm
Nguyên liệu làm bánh truyền thống của người Chăm không cầu kỳ. Chỉ từ bột nếp, gừng tươi, trứng, đường và chút men rượu, qua đôi bàn tay khéo léo của bà, của mẹ, những chiếc bánh mang đậm bản sắc văn hóa Chăm được tạo nên. Điều làm nên giá trị của bánh không nằm ở sự phức tạp, mà ở việc tất cả công đoạn đều được thực hiện thủ công, đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên nhẫn và niềm đam mê với nghề.
Tại xã Bắc Bình, nghệ nhân Đàng Thị Xuân, ở thôn Bình Hiếu có tiếng nghề làm bánh Chăm hơn 50 năm chia sẻ: “Để làm bánh Nòn Ya, gạo phải là loại nếp thơm, hạt to, trắng đục. Gạo được giã nhuyễn thành bột, phơi khô rồi trộn với trứng, gừng và đường theo tỷ lệ riêng của từng gia đình. Bí quyết nằm ở khâu nhồi bột. Bột phải đạt độ dẻo, mịn, không tanh mùi trứng thì bánh mới thơm”.
Bột sau khi nhồi được giã nhuyễn lần nữa rồi chia thành từng nắm nhỏ để nặn. Đây là công đoạn thể hiện rõ nhất sự khéo léo của người làm bánh. Bánh gừng được nặn hoàn toàn bằng tay, tạo hình gần giống củ gừng, cành san hô, con cá hay hoa văn gắn với đời sống biển của người Chăm. Đôi khi, người làm bánh dùng thêm dao nhọn hoặc muỗng nhỏ để chỉnh từng chi tiết. Mỗi chiếc bánh vì thế không cái nào giống cái nào.
Bánh nặn xong được chiên vàng, nhúng nhanh qua nước đường thắng cùng gừng để tạo độ bóng, rồi hong gió cho khô. Khi ăn, bánh giòn tan, vị ngọt dịu quyện mùi gừng cay nhẹ, béo bùi của trứng nếp, để lại dư vị rất riêng của bánh truyền thống Chăm. “Cả xóm, cả họ cùng làm bánh Nòn Ya mỗi năm một lần. Chị em gần xa tụ họp, cùng làm, cùng giữ nghề để nối tiếp cho đời con cháu mai sau”, bà Đặng Thị Sáng, ở thôn Bình Hiếu chia sẻ thêm.
Không chỉ là món ăn, bánh Nòn Ya, Sakaya, bánh hột gà hay bánh tét... là phần không thể tách rời trong đời sống tinh thần của người Chăm. Theo các sư cả làng Chăm, việc làm bánh, số lượng bánh và cách bài trí lễ vật đều tuân theo quan niệm về vũ trụ và nhân sinh. Những sản vật địa phương được gửi gắm vào chiếc bánh, mang theo ước vọng mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cuộc sống ấm no.
Ngày nay, đời sống hiện đại khiến nhiều loại bánh truyền thống đứng trước nguy cơ mai một. Một số gia đình không còn làm bánh thường xuyên, thay vào đó là sản phẩm mua sẵn. Tuy vậy, ở nhiều làng Chăm trong tỉnh, bánh vẫn được làm như để giữ gìn một phần bản sắc không thể thay thế, đặc biệt trong lễ nghi.
Qua đôi bàn tay khéo léo của những nghệ nhân Chăm, mỗi chiếc làm ra là một lần văn hóa Chăm được đánh thức, được truyền lại, không qua sách vở mà bằng mùi hương, vị bánh và cả câu chuyện kể bên bếp lửa. Giữ nghề làm bánh truyền thống, với họ, cũng chính là giữ lấy hồn cốt dân tộc cho con cháu mai sau.
Theo ông Bá Hoàng Anh Tuân, Trưởng Phòng Văn hóa xã Bắc Bình, các loại bánh Chăm thường có mặt trong các dịp lễ Kinh hội Sut Yâng, tháng ăn chay Ramadam, lễ cưới, lễ hỏi... của đồng bào Chăm theo đạo Hồi giáo Bà ni. Dù cách làm bánh ở mỗi nơi có nét riêng nhưng nhìn chung tương đồng giữ được những giá trị văn hóa cốt lõi.
Thanh Duyên .