Giữ nghề xưa giữa nhịp sống mới

Giữ nghề xưa giữa nhịp sống mới
4 giờ trướcBài gốc
Tinh hoa nghề truyền thống
Xuất phát từ thực tiễn sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là làm nương, canh tác trên đất khô, phải sử dụng công cụ có độ cứng, sắc, có khả năng cắt đứt các rễ cây, cỏ dại... mà nghề rèn (tiếng Mông gọi là Tâu Lâu) của người Mông đã có từ rất sớm. Trong quá trình rèn sản phẩm, người Mông trên địa bàn tỉnh đã tự trau dồi, tích lũy kinh nghiệm để tạo nên sản phẩm rèn ngày càng tinh xảo.
Ông Cứ Vảng Lộng, nghệ nhân bản Lọng Háy, xã Mường Phăng rèn nông cụ.
Vừa dùng búa đập cho miếng sắt dẻo đều với kỹ thuật quai búa đặc biệt giúp tiết kiệm sức nhưng vẫn đảm bảo đủ lực, ông Cứ Vảng Lộng, nghệ nhân nghề rèn bản Lọng Háy, xã Mường Phăng kể: Về nguồn gốc nghề rèn, những người cao niên nhất ở các bản đều không thể nhớ là có tự bao giờ. Con trai Mông chúng tôi chỉ biết rằng khi sinh ra đã có nghề rèn. Và hàng trăm năm nay, nghề rèn nông cụ của người Mông chủ yếu tồn tại theo phương thức “cha truyền con nối”. Trong mỗi gia đình, mỗi thành viên đều có thể là một “nghệ nhân” theo cách riêng. Mỗi sản phẩm là một dấu ấn riêng, kết tinh từ đôi bàn tay, kinh nghiệm và tâm huyết của người thợ.
Theo nghệ nhân Cứ Vảng Lộng, để làm ra một sản phẩm hoàn chỉnh, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn: Từ chuẩn bị nguyên liệu, cắt sắt thép, rèn, tôi, mài đến tra cán… Trong đó, bí quyết quan trọng nhất chính là khâu chọn nguyên liệu và kỹ thuật tôi thép. Người Mông “kén chọn” sắt thép rất kỹ, đồng thời có khả năng nhìn màu sắt để đưa vào tôi bằng nước muối, thân cây chuối hoặc dầu nhớt - mỗi loại vật liệu lại phù hợp với từng loại sắt khác nhau. Nhờ vậy, sản phẩm rèn của người Mông nổi tiếng bởi độ bền, chắc, dẻo dai mà vẫn sắc bén.
Tuy nhiên, chính sự cầu kỳ và giá thành cao lại khiến sản phẩm khó cạnh tranh trên thị trường. Nghề rèn truyền thống vì thế đang đứng trước nguy cơ mai một khi nhiều thợ rèn chuyển sang phương pháp hiện đại, còn lớp trẻ thì không còn mặn mà với nghề.
Cũng như nghề rèn của dân tộc Mông, ở nhiều địa bàn có người Xạ Phang sinh sống (Sín Chải, Mường Tùng, Si Pa Phìn, Mường Toong…) những đôi tay khéo léo của phụ nữ vẫn cần mẫn bên khung thêu, giữ gìn một nghề truyền thống độc đáo: Chế tác và thêu hoa văn trên giày. Người Xạ Phang là dân tộc ít người của tỉnh, với dân số khoảng hơn 2.000 người. Dù cư trú rải rác, nhưng họ vẫn giữ được nhiều giá trị văn hóa truyền thống, trong đó nổi bật là trang phục và những đôi giày thêu tinh xảo. Mỗi đôi giày là một tác phẩm nghệ thuật, được tạo nên từ những đường kim mũi chỉ khéo léo, kết hợp với sắc màu rực rỡ, hòa quyện cùng hình ảnh cỏ cây, hoa lá. Đó không chỉ là sản phẩm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, mà còn là kết tinh của sự kiên trì, sáng tạo và tâm hồn của người làm ra.
Việc truyền dạy nghề thêu cho thế hệ trẻ không chỉ giúp giữ nghề mà còn gửi gắm những giá trị nhân văn sâu sắc: Sự chăm chỉ, nhẫn nại, tình yêu lao động. Nhờ đó, nghề vẫn được duy trì bền bỉ trong cộng đồng. Đáng chú ý, xã Sín Chải có chủ trương xây dựng thương hiệu riêng cho sản phẩm giày thêu theo chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP). Đây được xem là hướng đi quan trọng, mở ra cơ hội nâng cao giá trị sản phẩm và giúp nghề truyền thống có thêm sức sống trong bối cảnh mới.
Động lực giữ nghề truyền thống
Không chỉ riêng nghề rèn của người Mông hay nghề thêu giày của người Xạ Phang, Điện Biên còn là nơi hội tụ nhiều nghề truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Hiện nay, toàn tỉnh có 44 nghề và làng nghề bản địa. Để duy trì và phát triển, tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ. Giai đoạn 2021 - 2025, UBND tỉnh đã ban hành 10 quyết định, kế hoạch chỉ đạo công tác bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề. Đồng thời, tỉnh đặt mục tiêu khôi phục, bảo tồn ít nhất 3 nghề truyền thống có nguy cơ mai một; công nhận mới 12 nghề truyền thống và 2 làng nghề. Nhờ đó, đến nay Điện Biên đã có 14 nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống được công nhận.
Phụ nữ Xạ Phang ở bản Thèn Pả thêu giày.
Theo Quyết định số 13/2020/QĐ-UBND ngày 14/8/2020, mỗi nghề truyền thống được hỗ trợ 2 lần mức lương cơ sở; làng nghề được hỗ trợ 5 lần và làng nghề truyền thống được hỗ trợ cao nhất là 7 lần mức lương cơ sở. Bên cạnh hỗ trợ tài chính, các ngành chức năng còn đầu tư hạ tầng, đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm… Nhờ đó, chất lượng và hiệu quả hoạt động của các làng nghề được cải thiện rõ rệt, thu nhập của người làm nghề từng bước nâng lên. Tiêu biểu như làng nghề dệt thổ cẩm ở bản Pa Xa Lào, xã Thanh Yên hiện nay có 33 gia đình với 36 lao động trực tiếp sản xuất. Hay tại bản Thèn Pả, xã Na Sang, nghề làm giày thêu của người Xạ Phang đã thu hút 73 gia đình với 120 người tham gia. Dù thu nhập chưa cao, nhưng người dân vẫn kiên trì giữ nghề, truyền nghề cho thế hệ trẻ. Đáng quý hơn cả, việc có nguồn thu từ nghề truyền thống không chỉ góp phần giúp người dân ổn định cuộc sống mà còn nuôi dưỡng niềm tự hào văn hóa, củng cố sự gắn kết cộng đồng. Trong bối cảnh hội nhập và phát triển, việc bảo tồn nghề truyền thống không thể tách rời phát triển kinh tế. Chính vì vậy, tỉnh ta đang định hướng gắn bảo tồn nghề với chương trình OCOP, phát triển du lịch và xây dựng nông thôn mới.
Để việc duy trì nghề, làng nghề truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng hiệu quả, đem lại giá trị kinh tế cao hơn, tỉnh cần bố trí nguồn lực hợp lý hỗ trợ nghề, làng nghề; gắn bảo tồn với phát triển sản xuất trong chương trình mỗi xã một sản phẩm OCOP. Với những chính sách, định hướng giữ gìn và phát triển nghề truyền thống sẽ tạo động lực cho những nghệ nhân, người làm nghề tiếp tục gắn bó với nghề, góp phần đưa các giá trị văn hóa truyền thống lan tỏa rộng rãi hơn.
Mai Phương
Nguồn Điện Biên Phủ : https://baodienbienphu.vn/tin-bai/van-hoa/giu-nghe-xua-giua-nhip-song-moi